Bài vở của GS Nguyễn Văn Tuấn, Úc Châu

Category: General Published: 16 April 2017
Hits: 1405

Nguyễn Văn Tuấn là một nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Ông hiện là nghiên cứu viên chính tại viện Garvan, Úc.

Ông sinh ra và lớn lên tại Kiên Giang. Vượt biên rời Việt Nam bằng thuyền năm 1981, năm 1982 ông sang định cư tại Úc.

Khi sang Úc định cư, ông bắt đầu bắc các công việc phụ bếp, rồi làm phụ tá trong phòng thí nghiệm sinh học tại Bệnh viện St. Vincent’s.

Từ năm 1987-1997: Ông lần lượt tốt nghiệp Thạc sĩ thống kê Đại học Macquarie (Úc), Tiến sĩ y khoa Đại học New South Wales (Úc), Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ (postdoc) tại đại học Wright State, Mỹ và Đại học Basle, Trung tâm nghiên cứu lâm sàng Sandoz (Thụy Sĩ) và Bệnh viện St Thomas (Anh).

Năm 2009, ông được bổ nhiệm chức danh Giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học New South Wales (Úc) trong khi công việc chính vẫn là nghiên cứu viên chính của viện Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Úc. Từ năm 2008 - 2013 ông được làm Nghiên cứu viên cao cấp Hội đồng quốc gia về nghiên cứu y khoa và y tế Úc (NHMRC).[1]

Trên trường quốc tế ông đã có gần 150 công trình nghiên cứu khoa học mà 70% là về di truyền học, 30% là dịch tễ học.

Ngoài lĩnh vực Y khoa tạo nên tên tuổi, ông cũng dành thời gian viết về nghiên cứu văn học và báo chí, với những bài viết sắc sảo trên những tờ báo lớn ở Việt Nam.

Bài viết đầy đủ khác của GS Nguyễn Văn Tuấn tại trang chủ tuanvannguyen.blogspot.com.

tuan's blog

  • Giải Nobel Y sinh học 2017: một nhắc nhở về "duyên khởi"

    Posted on: 20 October 2017, 3:20 am



    Đã từ lâu, qua quan sát thực tế, chúng ta biết rằng sự phát triển và tồn sinh của tất cả các sinh vật và thực vật đều chịu sự ảnh hưởng của môi trường chung quanh, và mức độ ảnh hưởng lại dao động theo thời gian trong ngày mang tính chu kì. Chẳng hạn như cây "mắc cở" xếp vào buổi tối và mở ra lúc ban ngày, hoa quỳnh nở vào ban đêm, nhưng cũng có hoa nở vào lúc sáng (như hoa 10 giờ). Các động vật như gà và chim thường hoạt động ban ngày nhưng ngủ ban đêm; ngược lại, dơi thì làm việc lúc ban đêm và ngủ ban ngày. Cuộc sống của các sinh vật này diễn ra theo một chu kì trong ngày, gọi chung là 'nhịp sinh học'.


    Nhịp sinh học của con người chúng ta thì hơi phức tạp hơn. Một số hoạt động cơ thể theo chu kì 24 giờ (như ngủ), nhưng một số chức năng khác như huyết áp, nhiệt độ và trí não thì theo chu kì 12 giờ. Dù ở nơi nào, cơ thể chúng ta đều "thức dậy" khoảng 6 giờ sáng. Hormone sinh dục đạt mức độ cao nhất trong khoảng thời gian 7 giờ sáng đến 9 giờ sáng. Nhưng không chỉ hormone, mà ngay cả sự hoạt động của phổi, thận, mức độ chịu đựng đau đớn, mức độ sáng tạo, v.v. cũng đều dao động theo thời điểm trong ngày. Chẳng hạn như phổi hoạt động tích cực vào lúc 4 giờ sáng, thận thì đạt mức thấp nhất vào 5 giờ sáng, mức độ sáng tạo đạt đỉnh vào thời gian 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng. Thời gian nghỉ lí tưởng là từ 1 đến 2 giờ chiều, và do đó có nhiều nơi trên thế giới chọn thời gian này là thời gian nghỉ trưa để nâng cao năng suất lao động.


    Nhưng cơ chế nào giúp cho cơ thể chúng ta vận hành theo chu kì 12 giờ hay 24 giờ như trên? Câu trả lời không phải đến từ nghiên cứu trên người, mà từ nghiên cứu trên ruồi giấm từ thập niên 1970s. Năm 1971, Giáo sư Seymour Benzer và nghiên cứu sinh của ông là Ronald Konopka (Viện công nghệ California, CalTech) lần đầu tiên phát hiện 3 "mutant" (tác nhân gây đột biến gen) liên quan đến nhịp sinh học. Đây là nghiên cứu rất quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất, trong chuyên ngành vì nó mở ra một cửa sổ cho chuyên ngành 'thời sinh học' (chronobiology). Nhưng giáo sư Benzer qua đời vào năm 2007 và Konopka thì qua đời vào năm 2015, và giải Nobel không trao cho người quá cố.


    Đến thập niên 1980s, nghiên cứu trên ruồi giấm Giáo sư  Jeffrey C Hall và Michael Rosbash (Đại học Brandeis) phát hiện một gen kiểm soát nhịp điệu sinh học, nhưng họ không biết gen tên gì. Họ còn phát hiện một protein (sản phẩm sinh học của gen) có vẻ tăng vào lúc ban đêm và suy giảm vào lúc ban ngày, và chu kì này lặp lại suốt đời. Họ đặt tên cho protein này PER (viết tắt của "period" có nghĩa là thời kì). Năm 1994, Giáo sư Young (ĐH Rockefeller) gọi gen này là "timeless" (vô tận) và thế là ông gọi protein này là TIM. Đây là những khám phá mang tính cách mạng trong sinh học. Về mặt phương pháp, giới khoa học đánh giá cách tiếp cận của nhóm nghiên cứu là rất cơ bản và 'tao nhã' vì qua đó chúng ta hiểu hơn về chúng ta. Để ghi nhận đóng góp quan trọng này, Hội đồng giải Nobel quyết định trao giải Nobel Y sinh học năm 2017 cho 3 người: Hall, Rosbash, và Young. Họ chia nhau giải thưởng gần 1 triệu USD.


    Duyên khởi


    Giải Nobel Y sinh học năm nay nhắc nhở chúng ta rằng mọi sự vật trên đời đều chịu sự ảnh tưởng mang tính tương tác và chu kì của môi trường chung quanh. Triết lí Phật xem con người chúng ta là một tiểu vũ trụ trong một đại vũ trụ. Do đó, các biến chuyển tâm sinh lí của chúng ta chịu sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Trong mỗi ngày, đồng hồ sinh học trong mỗi chúng ta điều phối hành vi, hormone, nhiệt độ để ứng với nhiều giai đoạn trong ngày. Điều này có nghĩa là sức khoẻ của chúng ta sẽ có vấn đề khi có sự bất xứng giữa môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể. Chẳng hạn như khi chúng ta đi từ nước này sang nước khác với hai múi giờ khác nhau, chúng ta bị "jet lag". Tương tự, sự bất xứng giữa lối sống và nhịp sinh học cũng có thể dẫn đến bệnh tật. Nhìn như thế thì bệnh tật không chỉ do gen, mà còn do mối tương tác phức tạp giữa gen và môi trường chung quanh. Môi trường đó cũng bao gồm cả sự chu chuyển của trái đất. Đó chính là "Duyên Khởi" (hay "Dependent Origination") trong Phật giáo.


    Những ai quan tâm đến Phật giáo đều biết đến khái niệm "Duyên Khởi", hay còn gọi là "Thập nhị nhân duyên". Thật vậy, đã có một phật tử Việt Nam (Gs Mai Trần Ngọc Tiếng) nghĩ đến mối liên quan giữa thời sinh học và Duyên Khởi. Ở đây, tôi muốn giải thích thêm cái ý tưởng này và những ý nghĩa cho khoa học tương lai. Duyên Khởi chỉ ra rằng vạn vật đều phụ thuộc lẫn nhau trong một hàm số khổng lồ, và vạn vật tồn tại là nhờ 12 nhân duyên. Mười hai nhân duyên bắt đầu bằng vô minh, đến hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, và lão hoá và tử. Bệnh tật và cái chết là hệ quả của vô minh. Tương truyền rằng Đức Phật giác ngộ dưới cây bồ đề và ngộ ra qui luật "Cái này có nên cái kia có; cái này sinh nên cái kia sinh; cái này không nên cái kia không; cái này diệt nên cái kia diệt." Một cách khác để hiểu là bất cứ môt sinh vật (thực vật và động vật, kể cả con người) đều do nhân duyên họp lại mà hình thành và tồn tại, và sự tồn tại liên tục chuyển biến (tức "vô thường"). Từ các hoạt động sinh lí đến tâm lí của con người đều chịu sự ảnh hưởng của môi trường và thời tiết, khí hậu. Chúng ta tương tác với môi trường chung quanh để kiến tạo nên hệ sinh thái. Chúng ta không thể tồn tại nếu không có môi sinh. Do đó, ở góc độ con người, có thể xem duyên khởi là qui luật vận hành của tất cả các biến cố, từ sinh lí đến tâm lí.


    Hiểu biết được mối tương tác giữa môi sinh và các hoạt động của cơ thể con người theo chu kì giúp chúng ta khá nhiều trong đời sống và giảm rủi ro hàng ngày. Cũng như thực vật, hoạt động mang tính chu kì của cơ thể chúng ta chịu sự ảnh hưởng của các tia sáng vô hình, tia tử ngoại, và tia hồng ngoại. Chẳng hạn như năng lực tập trung và thị lực chúng ta giảm đáng kể trong khoảng thời gian 2-4 giờ sáng, và do đó nên tránh làm những việc như lái xe. Sự minh mẫn cao nhất là từ 11 đến 1 giờ chiều, và do đó có người đề nghị không nên ra những quyết định quan trọng về kinh doanh ngoài khoảng thời gian đó. Thậm chí những thói quen thưởng thức như uống bia rượu cũng có thể áp dụng kiến thức sinh học để chọn khoảng thời gian lí tưởng.


    Ngoài ra, nhịp sinh học còn được ứng dụng trong điều trị lâm sàng và quản lí bệnh tật. Một loạt bộ môn khoa học như thời sinh học (chronobiology), thời trị liệu (chronotherapy), thời dược liệu (chronopharmacology), thời bệnh lí (chronopathology) đã hình thành từ các thành tựu khoa học trong nghiên cứu nhịp sinh học. Chẳng hạn như nhiều nghiên cứu cho thấy cho thuốc chống tăng huyết áp lúc ngủ có hiệu quả giảm nguy cơ đột quị, và kiểm soát đường huyết của các công nhân làm việc ca đêm hay ca đêm cần phải thích ứng với nhịp sinh học. Tuy nhiên, những khám phá về gen của các khôi nguyên Nobel năm nay về mặt khoa học là một thành tựu kĩ thuật, nhưng việc đem lại lợi ích cho bệnh nhân thì vẫn còn là một con đường dài.


    Nghiên cứu và thành tựu của các khôi nguyên Nobel dĩ nhiên là thể hiện những thành công ngoạn mục của công nghệ và suy luận thông minh. Ở mức độ thực tế, thời sinh học và gen liên quan xác định rằng bệnh tật là hệ quả của hằng hà sa số những mối tương tác phức tạp giữa các yếu tố môi trường và gen, mà nhịp sinh học chỉ là một biểu hiện. Nhưng nếu đặt trong bối cảnh chung và bức tranh lớn của nhân sinh quan thì các phát hiện liên quan đến nhịp sinh học và thời sinh học chỉ là một minh chứng cho nguyên lí Duyên Khởi của nhà Phật.


    Những ý tưởng và văn hoá Đông Phương đã từng là nguồn cảm hứng dẫn đến các tác phẩm văn học được trao giải Nobel. Tuy nhiên, trong khoa học thì "chất liệu Đông Phương" ít được khai thác trong các nghiên cứu cơ bản, nhưng khi được khai thác thì cũng có thể dẫn đến những khám phá tầm cỡ Nobel. Hai năm trước, bà Đồ U U được trao giải Nobel từ một phát hiện dược chất trong cây ngải, mà nguồn gốc sâu xa là từ y văn cổ. Năm nay, ba nhà khoa học hiện đại được trao giải Nobel nhờ vào công trình nghiên cứu thời sinh học có nguồn gốc sâu xa từ học thuyết Duyên Khởi mà có lẽ họ cũng chưa từng được tiếp cận. Tôi nghĩ trong điều kiện và môi trường công nghệ sinh học và khoa học phát triển ở đỉnh cao như hiện nay thì việc áp dụng các phương tiện khoa học để khai thác các ý tưởng từ văn hoá Đông Phương có thể dẫn đến nhiều khám phá thú vị khác.


    Tham khảo:


    (1) Proc. Nat. Acad. Sci. USA Vol. 68, No. 9, pp. 2112-2116, September 1971



  • Điểm sách "Tuyển tập chân dung văn học nghệ thuật & văn hoá" của Ngô Thế Vinh

    Posted on: 18 October 2017, 4:07 am


    Đây là một công trình mang tính anthology hay 'hợp tuyển tác giả' vừa công phu vừa mang tính sử của nhà văn Ngô Thế Vinh. Mười sáu văn nghệ sĩ và hai nhà văn hóa được giới thiệu trong sách là những nhân vật lừng danh trong nền văn học và văn hóa miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau năm 1975. Qua công trình này, bạn đọc sẽ "gặp" những tác giả nổi tiếng, những người đã có những đóng góp mang tính định hình cho nền văn học miền Nam trước 1975. Công trình này, tự nó, là một đóng góp quan trọng và có ý nghĩa vào công việc lâu dài nhằm gìn giữ những tinh hoa của văn học nghệ thuật miền Nam cho các thế hệ mai sau.




    Mặc dù nhà văn Ngô Thế Vinh sắp xếp tác giả theo năm sinh, nhưng tôi nghĩ cuộc đời, những tác phẩm, và hành trình sáng tác của các tác giả trong hợp tuyển này phác họa một trình tự khác. Đó là trình tự theo dòng lịch sử gồm 4 giai đoạn: bối cảnh văn học miền Nam trước 1975, tù đày, vượt biển,  sống sót.


    Về bối cảnh văn nghệ trước 1975, tôi chắc rằng cuốn sách của tác giả sẽ làm cho bạn đọc cảm thấy tiếc nuối cho một thời văn học được hình thành trong một chế độ chính trị chỉ tồn tại vỏn vẹn 20 năm. Đó là một môi trường văn học tự do, phóng khoáng và giàu tính nhân văn. Rất nhiều tác phẩm có giá trị cùng những quan điểm nhân sinh được giới thiệu, trình bày và quảng bá ngay trong những năm chiến tranh. Nhiều phong trào văn học nở rộ, như nhóm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh,nhóm Quan Điểm của Mặc Đỗ,nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo, nhómTiểu Thuyết Mới... Những phong trào văn học không chỉ cho ra đời những sáng tác để đời nhưng còn có những tác phẩm dịch thuật mà ngày nay chúng ta vẫn còn đọc. Nhà văn Võ Phiến nhận xét rằng "Trước và sau thời 1954 - 1975, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy." Nhiều người, kể cả người viết bài này, sống trong môi trường như thế không thấy trân quý nó cho đến khi đánh mất nó sau một cơn biến động lịch sử.


    Có lẽ môi trường tự do học thuật và phóng khoáng đó đã phát hiện và phát huy những văn tài sáng giá. Chính phủ Trần Trọng Kim tồn tại chưa tròn nửa năm, nhưng đã để lại một di sản giáo dục mà chúng ta còn sử dụng mãi đến ngày hôm nay. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tồn tại được 20 năm, nhưng các thiết chế văn hóa thời đó đã tạo dựng được một cộng đồng văn học nghệ thuật với một gia tài đồ sộ mà ngày nay những bậc thức giả nhìn lại cảm thấy luyến tiếc. Chỉ hai mươi năm sau 1954, miền Nam đã có được một cộng đồng tác giả thuộc nhiều lĩnh vực như văn, thơ, kịch, ký, họa. Tuy nhiên, sau cơn tai biến lịch sử năm 1975, họ trở thành những nạn nhân của một cuộc đổi đời. Họ biến mất khỏi văn đàn Việt Nam. Nhưng cùng thời gian đó một cộng đồng văn học được hình thành ở hải ngoại với những văn nghệ sĩ mới.


    Qua cuốn sách, bạn đọc sẽ "gặp" những văn nghệ sĩ lừng danh như Võ Phiến, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Mặc Đỗ, Linh Bảo... Bạn đọc sẽ biết đến những đóng góp của những người trẻ tuổi hơn sau 1975 ở hải ngoại như Cao Xuân Huy và Phùng Nguyễn. Nhưng qua những văn nghệ sĩ này, bạn đọc còn "gặp" những Phạm Duy, Vũ Hoàng Chương, Trần Ngọc Ninh, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Cung Tiến, Trần Phong Giao, Lê Ngộ Châu, Nguiễn Ngu Í, Nguyễn Mộng Giác, Tạ Chí Đại Trường, v.v... Có thể nói đó là những tinh hoa trong các thiết chế văn hóa - xã hội - giáo dục miền Nam.


    Hai nhà giáo và cũng là nhà văn hóa được nhắc đến trong sách là Giáo sư Phạm Biểu Tâm và Giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Có lẽ đối với đa số sinh viên ngày nay, lịch sử trường Y Sài Gòn bắt đầu từ năm 1975, nhưng qua chương viết về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, một danh y của Việt Nam, các bạn ấy sẽ biết rằng trường Y Sài Gòn có một bề dày lịch sử từ trước 1955 tức hơn nửa thế kỷ trước. Nhờ vào chương trình đào tạo tiên tiến, ngôi trường đó đã đào tạo rất nhiều bác sĩ tài ba, khi ra hải ngoạihọ dễ dàng trở thành bác sĩ trong dòng chính ở Bắc Mỹ, Úc Châu, Pháp và có người đã trở thành giáo sư y khoa danh tiếng ở Mỹ. Qua chương viết về Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, bạn đọc cũng sẽ biết thêm về bối cảnh và hành trình gian nan để thành lập Đại học Cần Thơ, nơi áp dụng hệ thống tín chỉ đầu tiên ở Việt Nam. Ngày nay, các giới chức giáo dục Việt Nam hay bàn đến vấn đề làm thế nào để nền giáo dục Việt Nam hội nhập quốc tế, nhưng họ có lẽ quên rằng nửa thế kỷ trước, hệ thống giáo dục miền Nam đã hòa nhập vào cộng đồng giáo dục thế giới.


    Nhưng biến cố lịch sử 1975 đã làm thay đổi tất cả. Các văn nghệ sĩ là nạn nhân trực tiếp và đầu tiên của biến cố đó. Trong khi các văn nghệ sĩ bị đi tù "cải tạo", thì các tác phẩm của họ bị săn lùng, thu hồi, hủy diệt, kể cả đốt sách. Trong quyển hợp tuyển này, bạn đọc sẽ đọc được những trải nghiệm đau khổ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyềntrong trại cải tạo và suy tư của ông:


           "Họ đưa chúng tôi ra Bắc, tới những cánh rừng già cô lập với thế giới bên ngoài, bỏ mặc tôi với thiên nhiên, tự do với “mục tiêu đi đốn gỗ mỗi ngày”, tôi đã tập leo và trượt núi chờ cơ hội đào thoát. Nhưng rồi mỗi ngày tôi chỉ tìm thấy con đường trở về trại.

    [...]

    Làm thơ trong trại tù cải tạo, cũng là trở về với thi ca truyền thống dân gian. Chế độ làm việc trong trại là một ngày căng thẳng tám tiếng, không có cuối tuần; mỗi tù nhân có một vũ trụ riêng: một manh chiếu, năm sáu chục tù nhân trên dưới hai tầng giường, khoảng hơn trăm người trong một lán dưới một mái che. Viết là một xa xỉ: một chỗ ngồi, thời gian viết. Với nhịp độ áp đặt trên đám tù nhân trong rét lạnh, đói... ai còn dám nghĩ tới sáng tạo? Ngay cả một thiên tài, một năng lực siêu nhiên cũng không thể vượt qua được những 'ức chế' như vậy."


    Những trải nghiệm như thế không phải là đặc thù, mà là một nét chung của tù cải tạo đã được các văn nghệ sĩ khác thuật lại. Một trong những nhà văn cũng từng ở tù cải tạo là nhà văn Cao Xuân Huy, tác giả của cuốn hồi ký nổi tiếng "Tháng Ba Gãy Súng". Nhà văn Nguyễn-Xuân Hoàng nhận xét rằng qua Tháng Ba Gãy Súng Cao Xuân Huy đã "vẽ lại cơn hồng thủy của một cuộc chiến không thương tiếc, phủ chụp lên số phận của cả một dân tộc."


    Trong cơn hồng thủy đó, có nhiều người đã bỏ mạng trong tù đày,đã vùi xác trong các trại cải tạo ở rừng sâu nước độc.Một trong những người đó là Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, viện trưởng thứ hai của Đại học Cần Thơ. Trong chương viết về Giáo sư Phạm Hoàng Hộ (một nhà thực vật học nổi tiếng và tác giả của bộ sách để đời "Cây Cỏ Miền Nam"), chúng ta được biết Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã bị giam cầm trong trại cải tạo Hà Nam Ninh suốt 11 năm, và ông đã chết trong trại sau những ngày tháng đói khát, bệnh tật, và khổ sai.


    Và,cũng có người may mắn sống sót. Hai trong số những người may mắn đó là thi sĩ Thanh Tâm Tuyền và nhà báo kỳ cựu Như Phong Lê Văn Tiến sau này định cư ở Mỹ.Khi ra tù, tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ không thể nào sáng tác dưới chế độ mới, và cũng như hàng triệu người dân miền Nam, họ đi tìm tự do, một số cũng trở thành "Thuyền Nhân".


    Hiện tượng "Thuyền Nhân" sau 1975 là một thực tế lịch sử, nhưng chưa bao giờ được "chính sử" Việt Nam ở trong nước ghi nhận đúng đắn. Trong hợp tuyển này, bạn đọc sẽ chia sẻ cùng các tác giả "Thuyền Nhân" trong hành trình vượt biển. Nhà văn Mai Thảo, phải trải qua hai lần vượt biên mới thoát khỏi Việt Nam. Thời gian ông tìm đường vượt biển cũng là lúc thân phụ ông qua đời, và ông chỉ có thể đến thăm mộ vào lúc ban đêm. Mai Thảo kể:


    "Trên biển cả, tôi có cảm giác được phóng thả. Tôi đã là một con người tự do. Đó là một đêm tối đen không trăng. Chúng tôi ra được biển khơi nhưng lại có một cơn bão thổi tới từ Phi Luật Tân, vật vã con tàu nhỏ, bắt buộc chúng tôi phải quay lại bờ. Vài ngày sau tôi được tin cha tôi chết ở tuổi 82. [...] May mắn là tôi đã bí mật tới thăm mộ cha tôi, đọc lời nguyện tỏ lòng tưởng nhớ và điều ấy đã làm dịu nỗi đau.

    [...]

    Trên tàu gồm những người tỵ nạn chính trị, sinh viên học sinh, người già, các gia đình với trẻ thơ. Chúng tôi trải qua 6 ngày đêm. Mọi người đều đói và khát, một số ngã bệnh. Khi chúng tôi tới gần Mã Lai, biển lặng, trời trong, và mọi người bắt đầu cất tiếng hát. Họ yêu cầu tôi ngâm một bài thơ. Tôi đọc bài thơ của một người bạn nói về một người đàn ông rời nhà ra đi mà không có một ai tới nói lời giã từ."




    Một nhà văn lớn khác của miền Nam là Nhật Tiến cũng từng trải qua những ngày tháng kinh hoàng trên đảo Koh Kra, nơi có hàng trăm người Việt tị nạn đã bị bạo hành và chết dưới tay những tên hải tặc Thái Lan. Sau khi đến trại tị nạn Songkhla, nhà văn Nhật Tiến cùng hai nhà báo Dương Phục và Vũ Thanh Thủy soạn một bản cáo trạng về thảm cảnh trên Biển Đông, và bản cáo trạng đã làm cho cả thế giới bàng hoàng về thảm nạn của người tị nạn Việt Nam. Đóng góp của Nhật Tiến đã làm tiền đề cho sự hình thành Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển ở San Diego, California.


    Đối với giới quan sát thế giới, người Việt Nam là một "dân tộc sống sót" (survival people), với hàm ý rằng người Việt có thể vươn lên từ nghịch cảnh. Một trong những người sống sót tiêu biểu đó là nhà văn Phùng Nguyễn. Anh là một tác giả đặc biệt và đáng nể. Phùng Nguyễn đến Mỹ năm 1984, và lúc đó anh đã 34 tuổi. Người gốc Quảng Nam này, 18 tuổi đã nhập ngũ và bị thương, chưa từng tốt nghiệp trung học ở Việt Nam, nhưng chỉ một thời gian ngắn ở Mỹ, anh đã trở thành một sinh viên xuất sắc, tốt nghiệp cử nhân ngành khoa học máy tính với hạng tối ưu. Sau đó, anh lại tốt nghiệp Cao học Quản trị Kinh Doanh (MBA) và trở thành giám đốc IT cho một công ty dầu khí ở California. Nhưng nghề IT chỉ là cái "xác", chứ từ tâm tưởng thì Phùng Nguyễn chọn nghiệp văn chương. Anh trở thành nhà văn và trước khi đột ngột qua đời năm 2015, Phùng Nguyễn đã để lại vài tác phẩm đặc sắc được các nhà văn khen hết lời. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác nhận xét về tác phẩm "Tháp Ký Ức" như sau: "Truyện ngắn đầu tay của Phùng Nguyễn vượt lên trên những sáng tác của những người ra đi tị nạn cộng sản từ Miền Nam thuộc thế hệ trước anh hay cùng thế hệ của anh, những sáng tác làm nòng cốt cho văn chương hải ngoại. Phùng Nguyễn ôn chuyện cũ như một kỷ niệm đẹp, nhưng anh không dừng ở đó. Anh nâng tấm ảnh cũ lên thành một suy niệm về nhân sinh." Phùng Nguyễn là một trường hợp tiêu biểu những tác giả trẻ ở hải ngoại. Họ là những chuyên gia khoa học và công nghệ trong xã hội, nhưng cũng là những nhà văn trên văn đàn Việt.


    Không chỉ sống sót trên quê người, họ còn có công gìn giữ và phát huy nền văn học miền Nam ở hải ngoại trong điều kiện thiếu thốn. Ít ai biết rằng một nhà văn như Võ Phiến khi sang Mỹ ông làm công chức văn phòng cho quận hạt Los Angeles, và ông soạn bộ sách Văn học Miền Nam trong thời gian này tại một căn nhà chật hẹp. Bạn đọc sẽ kinh ngạc và cảm phục sự dấn thân của nhà văn Mai Thảo, người chủ trương tạp chí Văn trong nhiều năm liền nơi một căn gác nhỏ phía sau nhà hàng Song Long ở khu Little Saigon, California.


    Đã chọn nghiệp văn chương thì ở đâu cũng "vương vấn" văn nghiệp. Đó là trường hợp của nhà văn Linh Bảo, một trong những nhà văn nữ hiếm hoi trong cộng đồng văn học miền Nam. Bà đã thành danh từ thập niên 1950s, sống và làm việc ở Hồng Kông và sau này ở Mỹ. Tác phẩmGió Bấc của bà đã nhận được nhiều lời khen tặng từ các nhà văn kỳ cựu như Nhất Linh, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến. Võ Phiến nhận xét rằng nhà văn gốc Huế này là một cây bút "có tài quan sát, lại có tài diễn tả một cách thông minh những điều mình quan sát."


    Nhưng cuộc đời lưu vong thường buồn. Đọc những dòng tâm sự của Mai Thảo về cuộc sống ở Mỹ dù được tự do nhưng mất phần hồn, và những hy vọng mà ông không bao giờ thực hiện được làm cho chúng ta ngậm ngùi: "Có lẽ một ngày nào đó Việt Nam sẽ tự do và tôi có thể trở về. Tôi đang hạnh phúc ở đây nhưng nội tâm thì rất buồn bã. Buồn cho dân tộc tôi. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn một tương lai. Xa rời quê hương, thật khó mà duy trì truyền thống của chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy như bị đánh mất phần hồn."


    Trong hợp tuyển này, bạn đọc sẽtìm thấy những ưu tư, những trăn trở của các nhân vật được phác họa qua một văn phong nghiêm chỉnh và cẩn trọng. Bạn đọc sẽ ngạc nhiên biết được những thói quen rất độc đáo của các nhà văn như Mai Thảo và Mặc Đỗ. Nhà văn Mai Thảo cho đến những năm trong thế kỷ 21 vẫn không dùng máy điện toán; ông vẫn cần mẫn viết tay tất cả thư từ và bài vở đến các tác giả. Ngay cả địa chỉ trên bao thư tạp chí Văn gửi cho bạn đọc ông cũng viết bằng tay! Một nhân vật độc đáo khác là nhà văn Mặc Đỗ, ông chỉ dùng máy đánh chữ cổ điển để viết văn, chứ không dùng máy vi tính!


    Để biên soạn cuốn hợp tuyển tác giả này, nhà văn Ngô Thế Vinh đã bỏ ra nhiều năm và công sức. Tác giả là một người rất thận trọng với dữ liệu và chữ nghĩa. Người viết bài này có cơ duyên quen biết với tác giả hơn 15 năm qua, và đã ra công làm cầu nối cho những bài viết của tác giả trên không gian mạng. Có những bài viết anh liên tục chỉnh sửa chăm chút đến từng chi tiết, thái độ và cách làm đó thể hiện một sự tôn trọng độc giả rất cao.


    Bạn đọc không chỉ gặp những nhân vật tài hoa với từng nhân cách đặc biệt, mà còn có dịp điểm qua những chứng từ quý hiếm mà tác giả đã dày công sưu tập. Mỗi chương sách, tính trung bình, có khoảng 12 hình ảnh, và 18 chương sách có hơn 200 hình ảnh và hiện vật. Bạn đọc sẽ chiêm ngưỡng những thủ bút, hiện vật, những bìa sách cách đây gần nửa thế kỷ. Mỗi nhân vật được tác giả phác họa bằng một tiểu sử, những tác phẩm, thành tựu của họ, và những tâm tình đằng sau những tác phẩm. Bạn đọc sẽ biết những nhân vật chính trong những sáng tác của Nguyễn Đình Toàn "không phải là những nhân vật được nhắc tới trong trang sách mà chính là Thành phố Hà Nội." Bạn đọc sẽ cảm thấy xúc động khi biết họa sĩ Nghiêu Đề, người mà tác giả gọi là "người bạn tấm cám", vẽ bức tranh sơn dầu về con gái út Bé Sài Gòn khi ông đang nằm trên giường bệnh và qua đời khi tác phẩm còn dang dở.


    Quyển hợp tuyển này là một đóng góp có ý nghĩa cho sự gìn giữ một nền văn học tự do, phóng khoáng và giàu tính nhân văn. Ngày nay, nếu hỏi ngẫu nhiên một sinh viên đại học hay thậm chí hỏi một giáo sư đại học, về những tác giả nổi danh trong nền văn học miền Nam trước 1975, xác suất rất cao là họ không biết hay chưa nghe đến. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì nền văn học đó chưa được ghi nhận một cách đứng đắn, và những tác giả thời đó cũng chưa được giới thiệu một cách có hệ thống trong các đại học và văn đàn sau 1975. Tình trạng này đã được nhà văn Võ Phiến nhận xét từ những hai thập niên trước: "Nền văn học 1954-75 ở Miền Nam Việt Nam trong thời gian qua bị ém giấu, xuyên tạc. Nó gặp một chủ trương hủy hoại, gặp những bỉ báng hồ đồ. Nó chưa được mấy ai lưu tâm tìm hiểu, phán đoán cách đứng đắn, tử tế." Cuốn hợp tuyển này sẽ giúp bạn đọc tìm lại một mảng văn học bị lãng quên, và có tư liệu để đánh giá nền văn học đó. Nếu các bạn muốn có những dữ liệu mới và đáng tin cậy cho việc khảo cứu nền văn học miền Nam trước 1975 thì quyển hợp tuyển này là một nguồn tham khảo cần thiết.






    Hội ngộ 16/9/2017, Little Saigon, California: Từ trái sang phải: kí giả Phạm Quốc Bảo (báo Người Việt?), Gs Lê Xuân Khoa (cựu Phó viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, nay đã gần 90 tuổi, và là thầy của anh Bảo); Bác sĩ Nhà văn Ngô Thế Vinh; Kĩ sư Phạm Phan Long (người mới được trao giải thưởng về "Dự án Tái sử dụng Nước Năm 2008 của tiểu bang California" của Hiệp Hội Kĩ sư Công Chánh Hoa Kì). Còn một người nữa không có trong hình vì là người chụp hình là Kĩ sư Ngô Minh Triết.



  • Tuyển Tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa của Ngô Thế Vinh

    Posted on: 14 October 2017, 3:52 pm



    Sách có thể mua qua amazon.com.


    NVT


     
    ====


    https://www.voatiengviet.com/a/ngo-the-vinh-dong-song-nghen-mach-mekong/4069355.html


    Đọc ‘Tuyển Tập Chân Dung VHNT & Văn Hóa’ của Ngô Thế Vinh

     

    Phạm Phú Minh


    Thời gian bắt đầu thế kỷ 21, tác giả Long Ân trong một bài nhận định về cuốn sách mới nhất của Ngô Thế Vinh hồi đó, đã viết:


    “Ở cuốn sách mới nhất của anh Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông dậy sóng, người đọc đã thấy những hóa thân Ngô Thế Vinh biến thái liên tục theo từng trang mở rộng. Ngô Thế Vinh con người xanh của môi sinh, Ngô Thế Vinh con người chính trị nhân bản, Ngô Thế Vinh con người phiêu lưu trong khu rừng già địa lý chính trị, Ngô Thế Vinh con người tiên tri lịch sử...”


    Đây là một nhận định rất tinh tế và chính xác về con người viết lách của bác sĩ Ngô Thế Vinh, cho đến thời điểm 2001. Ngày nay, 16 năm sau, chúng ta có thể thêm vào các dòng chữ trên: Ngô Thế Vinh con người của văn học nghệ thuật và tình cảm bạn hữu. Ít ra, đây sẽ là những đặc tính mà người đọc sẽ tìm thấy khi đọc cuốn sách mới nhất của anh: Tuyển Tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa.


    Cho đến năm 2001, nhà văn Long Ân đã nhìn thấy một Ngô Thế Vinh trên “tầm vóc vĩ mô” của những vấn đề lớn như địa lý chính trị, số phận của một dòng sông dài chảy qua nhiều nước, những vận động đa quốc gia để giữ gìn sinh thái cho cả một vùng Đông Nam Á v.v... với một hùng tâm hùng khí không bao giờ lùi bước và một tài năng sắc bén cùng một tấm lòng thiết tha không lay chuyển. Nhưng 16 năm sau, vào cuối năm 2017, với tác phẩm mới nhất của mình, có thể nói Ngô Thế Vinh đã lần đầu tiên đưa ngòi bút vào lãnh vực “vi mô” : chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa của từng con người cụ thể với tất cả các nét tế vi của lãnh vực này.


    Tác giả đã trình bày “chân dung” của 18 người, trong đó 16 vị thuộc lãnh vực Văn học Nghệ thuật: 1 Mặc Đỗ, 2 Như Phong, 3 Võ Phiến, 4 Linh Bảo, 5 Mai Thảo, 6 Dương Nghiễm Mậu, 7 Nhật Tiến, 8 Nguyễn Đình Toàn, 9 Thanh Tâm Tuyền, 10 Nguyễn-Xuân Hoàng, 11 Hoàng Ngọc Biên, 12 Đinh Cường, 13 Nghiêu Đề, 14 Nguyên Khai, 15 Cao Xuân Huy, 16 Phùng Nguyễn và hai vị thuộc dạng “Chân dung Văn hóa” là Phạm Biểu Tâm và Phạm Hoàng Hộ.


    Dùng hai chữ Chân Dung để đặt tên cho loạt bài viết này của mình, Ngô Thế Vinh đã sáng tạo ra một cách viết mới cho một số nhân vật mà anh lựa chọn. Quyển sách này không thuộc loại phê bình văn học như Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, hoặc Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân, không, anh không đặt mục tiêu và trách nhiệm của mình rộng đến thế. Trước hết anh không phải là nhà phê bình văn học hay nghệ thuật, anh chỉ tạo nên những “chân dung”, theo cách của mình. Một trong những điều kiện đầu tiên để tác giả làm việc này là người được giới thiệu phải là người quen thân của anh, nói đơn giản là bạn anh. Và chúng ta cũng có thể hiểu bạn bè ở đây phần lớn bắt nguồn từ các sinh hoạt văn học nghệ thuật và văn hóa mà có. Tình bạn ấy không chỉ thuần túy là tình cảm thân thiết giữa hai cá nhân như thường tình, mà trong đó còn lẫn lộn các tác phẩm văn chương hay hội họa, phong cách sáng tác, ý hướng sáng tạo hay con đường hoạt động của mỗi người. Tình bạn ấy có lẫn sự ăn ý của đôi bên về một phạm vi cao hơn, xa hơn chỉ là một giao tiếp xã hội.


    Với tiêu chuẩn đầu tiên như thế con số các nhân vật được đưa ra giới thiệu sẽ rất hạn chế, không thể đại diện cho một cộng đồng hay một thời đại, tuy thế, các chân dung được đưa ra cũng đủ lớn để phủ bóng một vùng khá rộng trong cái lãnh thổ văn hóa nghệ thuật mà tác giả đã lăn lộn trong ấy từ thời còn rất trẻ cho đến tuổi xưa nay hiếm, từ mảnh đất Việt ngàn xưa cho đến thế giới rộng lớn ngày nay.


    Định xong đối tượng, phương pháp của tác giả sẽ như thế nào để họa cho được một chân dung? Thật ra thì chẳng có một phương pháp cố định nào, lối giới thiệu nhân vật của Ngô Thế Vinh có lẽ tùy thuộc vào cái tâm cảnh của mình đối với một người bạn nào đó. Nhưng có một nguyên tắc vững chắc mà tác giả đã luôn luôn giữ trong cách viết từ trước đến nay, là nghiên cứu rất kỹ những tác phẩm của người mình định giới thiệu, tìm kiếm thật đầy đủ những ý kiến khen chê của phía người thưởng ngoạn, và một điều dĩ nhiên phải có, là vận dụng rất nhiều những kỷ niệm, ký ức có ý nghĩa của riêng mình đối với người ấy. Tôi cho những giao tiếp riêng tư, mà tác giả dùng chữ “giao tình”, có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên quyển sách này, đó là chất keo sơn rất bền chặt kết dính mọi nghiên cứu khách quan khác mà tác giả thực hiện một cách luôn luôn nghiêm túc.


    Một mặt khác về tài liệu, phần hình ảnh đóng một vai trò rất quan trọng, mà tôi nghĩ nếu không có “giao tình” với người mình để tâm nghiên cứu thì cũng khó mà được đầy đủ như thế. Hình ảnh là một điểm son của cuốn sách này, đối với nhân vật nào Ngô Thế Vinh cũng đưa ra rất nhiều hình ảnh mà càng lâu về sau càng trở nên quý giá: hình ảnh các bìa sách, các họa phẩm, các thư từ trao đổi hầu hết là thủ bút, những buổi gặp gỡ giữa các bạn văn nghệ, hoặc các hình ảnh có ý nghĩa lịch sử sưu tập được. Qua các hình ảnh này, người đọc được xem những buổi họp mặt của giới văn nghệ, trong đó có những nhân vật lâu nay nghe tiếng mà chưa biết hình dung, và cũng qua đó biết được sự giao du và tình quý trọng của giới văn học nghệ thuật đối với nhau như thế nào. Đó là chưa kể phần hình ảnh có tính cách tài liệu, nhất là những gì còn tìm được sau trận hỏa thiêu sách vở mịt mù khói lửa tại miền Nam từ sau 1975. Khác xa với các sách biên khảo phê bình từ thời trước 1945, thậm chí trước 1975, quyển sách này chứa đầy hình ảnh phần lớn mang màu sắc nguyên thủy, đó là một ưu điểm đặc biệt của thời đại ngày nay nhưng không phải tác giả biên khảo nào cũng đạt được đến số lượng, phẩm chất của tài liệu hình ảnh mà Ngô Thế Vinh thực hiện được trong quyển sách này. Kho hình ảnh này dĩ nhiên mang giá trị rất lớn cho công việc nghiên cứu trong tương lai.


    *


    Dĩ nhiên khi trình bày “chân dung” của một người bạn, không ít thì nhiều đều có ẩn hiện chân dung của chính tác giả. Đó là điều không tránh được, và cũng không cần phải tránh. Nếu chúng ta cố tìm một nơi nào hình bóng tác giả in đậm nhất, linh động nhất và có thời gian lâu dài nhất thì đó là bài viết về Người Bạn Tấm Cám Nghiêu Đề. Viết về Nghiêu Đề, những dòng chữ của Ngô Thế Vinh giống như là hồi ký về một quãng đời của chính mình.


    Bước vào năm đầu y khoa, thay vì như các bạn đồng khoá tập trung vào học tập, tôi đã không được gương mẫu như vậy, sớm say mê chuyện viết lách làm báo và cả rong chơi với giới nghệ sĩ nhóm bạn Nghiêu Đề. Rất khác nhau nhưng không hiểu sao tôi và Nghiêu Đề lại có thể thân nhau đến như vậy. Nghiêu Đề có nếp sống lang bạt, có nhiều bạn tấm cám từ thời còn rất trẻ, xóm Bùi Viện gần ngã tư quốc tế là khu giang hồ nơi chúng tôi thường lui tới lúc đó, họ tiềm ẩn tài năng nhưng còn như những “viên ngọc ẩn thạch”...


    Ngô Thế Vinh viết về Nghiêu Đề với một văn phong khác lạ, dường như đang chạm vào một vùng êm ái và đáng yêu của đời mình, ở giai đoạn vừa xông vào đời với những mộng mơ, bên cạnh người bạn có cá tính khác mình nhưng như một bổ túc, bù đắp cho chính mình. Nói về tiểu thuyết Vòng Đai Xanh viết vào thời kỳ khai phá sung mãn ấy, Ngô Thế Vinh đã hé lộ cho chúng ta thấy vai trò của người bạn Nghiêu Đề đã được khẳng định rất sớm trong cuộc đời của tác giả, đến độ như “mình với ta tuy hai mà một”:


    Triết nhân vật chính trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, một hình tượng văn học, nguyên gốc hoạ sĩ sau trở thành phóng viên chiến trường có bóng dáng Nghiêu Đề trộn lẫn với cái tôi của tác giả.


    Nghiêu Đề, một người bạn thân thiết xuất hiện khá sớm trong đời Ngô Thế Vinh tại cái xóm báo chí Phạm Ngũ Lão Sài Gòn năm xưa, cho đến những ngày cuối cùng của “người bạn tấm cám” này tại vùng Nam California trên đất Mỹ, tình bạn của họ không suy suyển trải qua quá nhiều biến cố đổi thay của đất nước và của thời đại. Bài viết về Nghiêu Đề đúng là một bức chân dung thật sự về cá tính, tài năng và cuộc đời của một họa sĩ đầy phiêu lãng, chính là một tài liệu quý hiếm về nhân vật này, mà tôi nghĩ, ngoài Ngô Thế Vinh sẽ không một người nào có thể thực hiện được đầy đủ và sâu sắc như thế. Không phải là bạn thiết từ thời trẻ tuổi, thấu hiểu nhau qua từng giai đoạn của đời sống thì tác giả không thể đặt những nhát cọ cuối cùng cho bức chân dung như một kết luận về tính cách của Nghiêu Đề như thế này:


    Không tự ràng buộc vào những quy ước thông tục của đời sống, dễ nhìn Nghiêu Đề như một người phóng giật hay buông thả bất cần đời, anh hoà nhập với mọi người nhưng lại hàm chứa vẻ cao ngạo với chính anh chứ không với ai khác. Là người bạn đôn hậu, không hề cay độc nhưng lại rất cynical, Nghiêu Đề vẫn hồn nhiên gọi chó là đồng loại. Nói như Oscar Wilde: “Anh là mẫu người biết giá của mọi thứ, nhưng không có gì giá trị đối với anh / A man who knows the price of everything and the value of nothing”.


    *


    Một tình bạn khác cũng rất đặc biệt, vì với một người khác phái và hơn một thập niên cách biệt về tuổi tác, mà chúng ta thường gọi là bạn vong niên : nhà văn Linh Bảo.


    Tôi thấy, một cách khách quan, viết giới thiệu Linh Bảo là một việc cần thiết, vì sự xuất hiện của bà trên văn đàn Việt Nam tương đối ngắn ngủi và tác phẩm không nhiều, nhưng đó là cái ngắn ngủi của một ngôi sao băng xẹt ngang bầu trời. Tác phẩm Tàu Ngựa Cũ của bà được trao Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.


    Ngô Thế Vinh đã sưu tầm được những lời đánh giá “có tầm lịch sử” về tài văn chương của Linh Bảo mà anh gọi là “Rất tình cờ từ ba địa phương, cả ba tác giả Bắc Nam Trung đều có chung một nhận định: Linh Bảo là một cây bút có văn tài. Linh Bảo viết không nhiều, nhưng tác phẩm nào cũng đặc sắc”.


    Ba tác giả Bắc Nam Trung ấy là Nhất Linh, Bình Nguyên Lộc và Võ Phiến với lời lẽ của họ trích từ bài viết của Ngô Thế Vinh :


    Chính Nhất Linh là người khuyến khích và hướng dẫn Linh Bảo vào con đường viết văn. Trích đoạn bức thư của Nhất Linh viết từ Sài Gòn ngày 29 tháng 5 năm 1953 gửi Linh Bảo khi ấy vẫn còn ở Hương Cảng với tên Lại Cẩm Hoa :



    Kính gửi chị Hoa,


    Tôi đã nhận được cuốn Gió Bấc và đã đọc hết. Khá lắm và hay hơn lần viết đầu. Xin gửi lời khen chị. Các nhân vật quốc nội và hải ngoại cũng rõ ràng linh hoạt hơn, đoạn kết cũng rất khéo và vừa vặn.

    (...)

    Chị đã có cốt cách nhà văn, cứ thế mà tiến, yên tâm mà tiến, còn nhiều rực rỡ về sau đợi chị. (...)

    Nhất Linh


    Còn Bình Nguyên Lộc nhà văn đất Nam Kỳ thì bộc lộ các nhận xét rất độc đáo của mình về văn chương Linh Bảo qua bức thư sau:


    Sài Gòn 21/9/1958

    Chị Linh Bảo,


    Hôm nọ tôi có đến thăm chị nhưng chị đi vắng...


    Một điều sau đây tôi được biết, nói ra sợ chị không tin nhưng không thể không nói được: là rất nhiều bạn văn, bên phe không cọng, nói với tôi rằng các tiểu thuyết đăng ở Văn Hoá Ngày Nay chỉ có tiểu thuyết của Linh Bảo là hay. Họ không nói là hay hơn hết mà chỉ nói là hay thôi. Thế nghĩa là còn hơn là hay hơn hết nữa kia.


    Riêng tôi, tôi thấy chị hay hơn Gió Bấc nhiều lắm [Bình Nguyên Lộc muốn nói tới tiểu thuyết Những Đêm Mưa, đang đăng định kỳ trên Văn Hoá Ngày Nay, ghi chú của người viết] và giọng văn của chị đã rõ nét ra, một giọng văn mà ba mươi năm nữa chưa chắc đã có người làm theo được...

    Tôi ngạc nhiên lắm. Bề ngoài chị rất là đờn bà, nhưng sao văn chị như văn đờn ông thế. Đọc xong bốn kỳ Những Đêm Mưa, tôi ngán sợ chị ghê lắm, sợ cái tài quan sát nội tâm và ngoại cuộc của chị rất là bất ngờ, mà nhất là sợ cái cười bình thản của chị vô cùng. Sợ đây không phải là phục.

    Đành là phục rồi, khỏi phải nói, mà sợ bị chị quan sát và cười, mặc dầu chỉ cười thầm thôi...

    Bình Nguyên Lộc


    Và sau cùng là nhận xét của Võ Phiến, cây bút miền Trung, trên tạp chí Bách Khoa [số 161, năm 1962]:


    "Trong số những người đàn bà viết văn ở ta hiện nay, có lẽ Linh Bảo có tài nhất: có tài quan sát, lại có tài diễn tả một cách thông minh những điều mình quan sát. Quan sát và phân tích tâm lý, Linh Bảo đã trình bầy được mỗi nhân vật với một hình dạng, một cá tính rõ ràng, một lối sinh sống và ăn nói riêng biệt... Linh Bảo thường hay tìm ra cơ hội để làm người đọc mỉm cười, dù là trong những trường hợp buồn thảm: nhà ngập lụt, vợ chồng giận nhau. Giữ được nét mặt tươi tắn cả trong khi buồn, đó là một lối làm đẹp rất khéo của đàn bà, nhất là đàn bà 'lịch sự': vì vậy mà cái cười do Linh Bảo gợi lên lắm lúc có chua chát, người đọc vẫn dễ có cảm tình với giọng văn của tác giả."


    Như vậy, Linh Bảo dù viết ít và trong một thời gian không dài, nhưng tài năng của mình đã được xác nhận bởi ba vị mà vai vế và uy tín của họ trên nền văn học Việt Nam cận và hiện đại đã là những bảo chứng rất chắc chắn. Và điều quan trọng là đã có người sưu tầm và đề cập đến trong một bài viết rất đầy đủ về phương diện tư liệu lẫn hiểu biết cá nhân.


    Riêng cá nhân người viết bài này cũng được quen biết với nhà văn Linh Bảo qua sự giới thiệu của anh Ngô Thế Vinh. Năm 2002 tôi làm chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21 ở miền Nam California, quyết định tháng Bảy năm ấy sẽ làm một số đặc biệt về Nhất Linh, và kêu gọi văn hữu khắp nơi đóng góp bài vở về chủ đề này. Một hôm anh Ngô Thế Vinh gọi cho tôi, cho số điện thoại của chị Linh Bảo và gợi ý tôi nên liên lạc xin chị viết cho một bài về Nhất Linh. Tôi làm theo và quả nhiên được chị Linh Bảo nhận lời. Bài của chị được đăng trên báo Thế Kỷ 21 số 159 đặc biệt về Nhất Linh và sau đó hai năm in trong cuốn sách Nhất Linh Người Nghệ Sĩ Người Chiến Sĩ do Thế Kỷ xuất bản.


    Sau đây là một số trích đoạn của bài viết có liên quan đến chỗ khởi đầu văn nghiệp của nhà văn Linh Bảo, cũng là chút kỷ niệm giữa chị Linh Bảo, anh Ngô Thế Vinh và người viết bài này, xin phép gửi ké vào đây :


    BÀI HỌC “NHIỆT THÀNH”

    LINH BẢO


    Kính gửi anh Minh,


    Trong lúc tôi đang “vui thú điền viên” nghĩa là tưới cây cỏ ở vườn sau thì nhận được điện thoại của anh. Mở đầu anh nói ngay là do anh Ngô Thế Vinh giới thiệu. Anh Vinh là người bạn từ 40 năm trước. Với thân tình ấy, nghe anh bảo viết một bài cho số Thế Kỷ 21 đặc san về Nhất Linh, làm tôi không biết “ca bài con cá” ra sao.


    Thú thực tôi sống ở nước ngoài nhiều hơn ở trong nước nên kỷ niệm với tiền bối Nhất Linh rất ít. Nếu nói thế để từ chối thì anh sẽ trách tôi tránh né và anh Vinh cũng sẽ không vui.

    Sau khi nghĩ kỹ, tôi viết thư này cho anh cố tìm kiếm soi mói ký ức xem có gì liên hệ đến anh Nhất Linh kể hết cho anh biết, rồi tùy anh muốn bắt muốn tha sao cũng được.

    (...)

    Qua một bà bạn Việt Nam, tôi được quen anh Trương Bảo Sơn và chị Nguyễn Thị Vinh. Anh chị rất thương mến tôi coi tôi như em gái, săn sóc đủ mọi thứ. Nhờ thân tình ấy tôi đưa cho chị Vinh xem tập nhật ký của tôi viết, kể lại cuộc sống của sinh viên Việt Nam tại Trung Sơn Đại Học ở Quảng Châu.

    (...)

    Tập nhật ký nhỏ ấy tôi gọi là Gió Bắc, vì tôi bị suyễn nặng từ bé, và mỗi khi gió Bắc thổi thì cơn hen suyễn lại nổi lên thảm khốc.

    Chị Vinh đọc xong Gió Bắc cho là thú vị nên cho anh Nhất Linh đọc. Nhất Linh bảo tôi viết lại thành truyện ở ngôi thứ ba đừng giữ lối viết Nhật ký. Vì thời ấy độc giả chưa quen nghe “cái tôi” bất cứ tác giả nào. Anh Nhất Linh cũng đề nghị đổi tên Gió Bấc hay hơn chữ Gió Bắc tôi đã dùng.


    Tôi làm theo lời anh và Gió Bấc, cuốn truyện đầu tay của Linh Bảo ra đời.

    (...)

    Việc Gió Bấc đầu tay được Nhất Linh xuất bản là một bất ngờ cho tôi. Chủ tâm tôi chỉ ghi lại như một nhật ký chứ không nghĩ xa hơn. Nếu không có một Nguyễn Thị Vinh hào phóng, khuyến khích, nâng đỡ giới thiệu bước đầu thì chắc không có Linh Bảo.

    (...)

    Tôi còn nhớ lần đầu tiên được ngồi ăn phở với anh chị Sơn Vinh và anh Nhất Linh, tôi có một cảm khái đặc biệt. Ngày xửa ngày xưa, lúc còn bé con ở nhà đọc Phong Hóa, Ngày Nay, đọc các sách của anh Nhất Linh, xem anh như một bậc thầy rất xa vời... Thế mà không ngờ trong đời có lúc được cùng ngồi ăn chung một bàn... Nhìn tay anh cầm đũa run run, tôi ngờ rằng sức khỏe của anh đã bắt đầu suy kém.


    Tôi có thể quên và được quyền quên tất cả mọi kỷ niệm, ký ức... tất cả mọi vui buồn trong đời. Nhưng không bao giờ quên được lời khuyên rất quan trọng của anh.


    - Phải nhiệt thành trong tất cả mọi trường hợp. Bất cứ làm gì cho mình hay cho người, bao giờ cũng đầy nhiệt thành. Làm việc với nhiệt thành không bao giờ nản, đối thoại với nhiệt thành không bao giờ chán, sống với nhiệt thành thì thời gian không bao giờ trôi qua một cách nặng nề.

    Lúc ấy tôi đã hỏi lại anh:


    - Nhưng nếu lỡ có sự việc gì mà mình không cảm thấy “nhiệt thành” được thì sao?

    Anh trả lời không ngần ngại:

    - Thì de ra, cũng một cách nhiệt thành chứ sao!


    À ra thế.


    Anh Minh, tôi không biết gì quan trọng về anh Nhất Linh, ngoài bài học “Nhiệt thành” anh đã trao truyền lại, và tôi đã cố gắng giữ gìn đừng đánh mất.


    Tôi kèm theo phóng ảnh ba bức thư của anh Nhất Linh. Tất cả thư từ anh đều viết tay và hơi khó đọc. Trong một thư đề tên Hoa, đó là một trong những tên “vượt biên” trước khi thành ra Linh Bảo.


    Tác giả Ngô Thế Vinh là một bác sĩ, tốt nghiệp trường Y Khoa Sài Gòn năm 1968. “Thế giới Y khoa” có thể nói là môi trường hoạt động chính của anh, từ khi bước vào trường thuốc cho đến ngày nay. Mặc dù Ngô Thế Vinh nổi tiếng về nhiều tác phẩm không dính gì tới thuốc men, về các hoạt động không trực tiếp về sức khỏe của con người, nhưng tôi có cảm tưởng tâm hồn anh không bao giờ rời xa những năm học tập ở Đại học Y Khoa Sài Gòn, với những vị thầy khả kính từ học vấn uyên thâm lẫn nhân cách, với biết bao bạn bè đồng tâm đồng chí với mình từ khi còn đi học cho đến quãng đời về sau cọ xát với nhiều gian lao khổ ải, kể cả bỏ mình nơi chiến trận hoặc vào trải tù cải tạo cộng sản sau khi miền Nam thất thủ.


    Muốn hiểu nỗi niềm đó của Ngô Thế Vinh thì cần phải đọc bài anh viết về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, một Giáo sư ở vị trí lãnh đạo lâu năm nền giáo dục Y khoa của miền Nam, đã trở thành kết tinh cao nhất của cả một thế giới vừa nội tâm vừa ngoại cảnh suốt đời nơi một người học trò.


    Giáo sư Phạm Biểu Tâm thì ai cũng biết là người Huế, nhưng ít ai biết ông là người gốc miền Nam của Việt Nam. Đây là một phát giác thú vị, vì đi ngược với khuynh hướng di dân chung của dân tộc Việt Nam là từ Bắc vào Nam. Đi ngược lại thì phần nhiều là đi làm quan tại miền Trung hay miền Bắc, như trường hợp họ Nguyễn Tường từ Quảng Nam ra lập nghiệp tại Hải Dương, để con cháu ba đời sau đã tạo nên một sự nghiệp lớn lao là Tự Lực Văn Đoàn và báo Phong Hóa Ngày Nay; và trường hợp ông cố của Gs Phạm Biểu Tâm từ Gò Công ra Huế làm quan thời Gia Long và gia đình định cư luôn tại đó. Nhưng riêng Gs Phạm Biểu Tâm lại đi thêm một bước nữa là ra Hà Nội học Y Khoa từ năm 1932 và từ năm 1948 trúng tuyển kỳ thi Thạc Sĩ Y Khoa [Professeur Agrégé des Universités] tại Paris, tiếp tục giảng dạy tại Đại học Y Khoa Hà Nội kiêm Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn, cho đến cuộc di cư 1954 mới về lại đất cũ gốc gác miền Nam của mình từ bốn đời trước. Những cuộc “di cư ngược” từ bản chất là những người có khả năng được triều đình bổ dụng làm việc hoặc ở kinh đô Huế, hoặc ra hẳn miền Bắc xa xôi. Đó là những tinh hoa đã lộ ra từ miền đất mới mẻ phía Nam, họ đi làm việc triều đình nhưng dần dà đã định cư tại nơi làm việc, và đã để lại những hoa trái thật quý giá cho cả Việt Nam trên mảnh đất cũ của tổ tiên bao đời trước mà họ có cơ hội quay lại.


    Năm 1954, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã cùng gia đình di cư vào Nam, được đề cử làm Giám Đốc Bệnh Viện Bình Dân mới xây cất xong trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, đồng thời cũng là Trưởng Khu Ngoại Khoa tại bệnh Viện này. (...) Đây cũng là một bệnh viện giảng huấn trực thuộc trường Đại Học Y Nha Dược duy nhất của Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ.


    Khi Đại Học Hỗn Hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam [11.05.1955], Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm được đề cử làm Khoa Trưởng, và là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Y Dược Sài Gòn [Faculté Mixte de Médecine et Pharmacie].


    Năm 1962, Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ / American Medical Association [AMA] đã viện trợ một ngân khoản lớn cho Việt Nam để xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với tiêu chuẩn hiện đại tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, gồm một Trường Y Khoa [giai đoạn I] và một Bệnh Viện thực tập [giai đoạn II]. Lễ đặt viên đá đầu tiên do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.


    Sau biến cố 1963, Gs Phạm Biểu Tâm tiếp tục ở lại với Trường Y Khoa cho đến tháng 3 năm 1967, khi tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương đã đơn phương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Khoa Trưởng của Gs Phạm Biểu Tâm để thay thế bằng một Uỷ ban 5 người, đây cũng là lần đầu tiên ở miền Nam chính trị can thiệp vào nền tự trị đại học.


    Với một ông Thầy gắn bó với chức vụ cao nhất của trường Y Khoa trong một thời gian lâu như thế, sinh viên rồi Bác sĩ Ngô Thế Vinh khi nhắc tới vị giáo sư đáng kính này là như sống lại cả một quãng đời từ khi bước vào trường Y cho tới ngày hôm nay. Ảnh hưởng của một người Thầy đúng nghĩa trong đời là như thế. Như một người cha tinh thần suốt đời của mình.


    Sau 1975 thầy ở lại Sài Gòn tiếp tục giảng dạy Y khoa, trò đi vào tù cải tạo, may mắn là thầy trò cuối cùng lại được gặp nhau trên đất Mỹ.


    Trong cảnh tha hương, cảm động và mừng tủi biết bao nhiêu khi được gặp lại Thầy, trên một lục địa mới ở một nơi xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất. Được cầm bàn tay ấm áp và mềm mại của thầy Tâm trong bàn tay mình, rồi như từ trong tiềm thức của một hướng đạo sinh ngày nào, tôi siết nhẹ bàn tay trái của Thầy và chỉ có thể nói với Thầy một câu thật bâng khuâng “…đôi bàn tay này Thầy đã cứu sống biết nhiêu người.” “Có gì đâu Vinh.” Thầy xúc động và nghẹn ngào...


    Như một câu chuyện có hậu. Nhưng tình tiết để dẫn đến cái “hậu” đó thì phong phú lắm, cần phải đọc hết bài này mới có thể thấy hết được. Tôi gọi đó là “Thế giới Y Khoa” của Ngô Thế Vinh.


    *


    Hoàng Ngọc Biên là một loại chân dung đặc biệt đáng được giới thiệu, vì nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lẫn dịch thuật văn học, họa sĩ lẫn nhạc sĩ này vốn riêng được giới văn nghệ biết đến và quý mến, nhưng các đặc sắc của anh lại ít được quần chúng biết và chú ý.


    Nhưng bài viết của Ngô Thế Vinh về Hoàng Ngọc Biên là một tài liệu có thể nói rất đầy đủ và phong phú về một con người đã đem lại cho nền văn học Việt Nam, ít nhất trong khung cảnh miền Nam trước 1975, nhiều mới lạ.


    Trong khung cảnh cuộc chiến tranh Việt Nam ngày một leo thang với sự xâm nhập ngày càng lớn những binh đoàn từ miền Bắc, rồi đến cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ, sự tuyên truyền rất hữu hiệu của phe cộng sản trên thế giới về hành động “xâm lược” của Mỹ tạo nên phong trào phản chiến rất mạnh trên đất Mỹ và khắp các nước Tây phương, một số trí thức Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của cuộc diện ấy. Chính Võ Phiến nhớ lại hình ảnh của Hoàng Ngọc Biên thời ấy:


    "Anh Biên thì khuynh tả, khoái Che Guevarachính anh thì râu ria tóc tai dài phủ tới ót”. Và Hoàng Ngọc Biên đã ở trong nhóm sáng lập tờ báo Trình Bầy, thở một hơi thở chung của khuynh hướng tả phái tại nhiều nơi trên thế giới. Cái ảo tưởng muốn người Việt Nam tự mình tìm hướng đi riêng trong cuộc đụng độ giữa hai thế lực lớn trên thế giới là tự do và cộng sản chính cũng là một loại lý tưởng của thời ấy, và lý tưởng nào thì cũng bắt nguồn từ thiện ý và từ hoàn cảnh đang có. Đó là lý do tờ Trình Bầy trong đời sống ngắn ngủi hai năm của nó, đã thu hút khá nhiều cây bút đủ mọi khuynh hướng của miền Nam. Và đó cũng là sự vỡ mộng của những người khuynh tả của miền Nam sau khi phe cộng sản thắng trận: tả hay hữu gì của thế giới tự do đối với cộng sản cũng đều là phản động tuốt, cũng có thể là những màn trá hình của CIA cả. Ngay cả trong nhiều trường hợp người cộng sản rất hiểu bản chất lý tưởng của những người thiên tả này họ cũng không dung nạp vì họ biết đó là những con người tự do, rồi ra sẽ làm rối hàng ngũ rất chỉnh đốn của họ. Người cộng sản làm cách mạng đâu có phải để đi cưu mang những con người lãng mạn? Họ đã triệt để lợi dụng thành phần này cho cuộc đấu tranh của họ, nhưng khi “bao nhiêu lợi quyền đã qua tay mình” thì tại sao họ lại đi ôm rơm cho nặng bụng? Tốt hơn hơn hết là quẳng đi những cái vỏ sau khi đã vắt kiệt hết nước.


    Ngô Thế Vinh đã viết rất chính xác :


    “Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây sự giác ngộ của cả những khuôn mặt trí thức lớn thiên tả Pháp như Jean Paul Sartre đối với cộng sản Việt Nam sau 1975, khi có xảy ra thảm trạng "boat people" trên Biển Đông; chính J.P. Sartre đã trở thành một "activist" vận động hiệu quả cho "Một con tàu cho Việt Nam/ Un bateau pour le Vietnam" đi cứu vớt các thuyền nhân. Kinh nghiệm với cộng sản Việt Nam cho đến nay vẫn là một bài học/ a lesson to learn cho thế giới.”


    Vậy chính sự vỡ mộng với cộng sản cũng đóng góp một vốn sống, một kinh nghiệm quý cho đời.


    Nhưng hãy quên đi những nét thời sự tả hữu của thời mịt mù khói lửa ấy để chỉ nhìn vào các hoạt động văn học và nghệ thuật của HoàngNgọc Biên, thì sẽ thấy đây mới là những công việc “vượt thời gian và không gian” của anh : nghiên cứu về tiểu thuyết mới, tự mình thể nghiệm sáng tác và dịch thuật các tác phẩm theo khuynh hướng mới, làm thơ, vẽ tranh, làm nhạc, trình bày sách báo... với tất cả tài hoa và sự say mê đi tìm cái mới của mình, như nhận xét của Ngô Thế Vinh:


    Chính Hoàng Ngọc Biên, cả ở những năm về sau này, qua những sáng tác mới anh vẫn cứ bền bỉ và kiên trì đi trên con đường tiểu thuyết mới mà anh đã chọn. Truyện của Biên kén độc giả, Hoàng Ngọc Biên không phải là tác giả của đám đông nên tên tuổi của anh cũng ít được biết tới.


    Điều đáng quý trọng của Hoàng Ngọc Biên chính là tinh thần không bao giờ thỏa mãn với cái đang có.


    Với Hoàng Ngọc Biên, một tác phẩm được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh, suốt đời Biên luôn luôn là một cuộc hành trình đi tìm cái mới.


    Chính tinh thần đó mới là tiền đề của tất cả sự sáng tạo và tiến tới cho cuộc sống của một xã hội.


    *


    Trong cuốn sách này Ngô Thế Vinh xây dựng chân dung của từng nhân vật với hai tư thế: một, với sự khách quan của một người nghiên cứu; và hai, với lợi thế to lớn của chủ quan, vì nhân vật được nói đến luôn luôn là một người bạn của mình.


    Hai yếu tố đó hòa quyện lẫn nhau tạo nên một lợi thế đặc biệt cho người viết, vì thật ra khách quan và chủ quan chỉ là hai cách nhìn của một chủ thể, người cầm bút. Anh ta phải nhờ đến tài liệu để tạo nên bức chân dung trung thực: quê quán ở đâu, sinh năm nào, học lực thế nào, khuynh hướng ra sao... Rồi khi đụng đến tác phẩm của người ấy thì sự khách quan bắt đầu lung lay: sự thưởng thức nào lại chẳng có phần chủ quan trong đó, thậm chí là phần lớn. Đây là một tiểu thuyết của bạn mình, mà mình thì quá rõ tính tình, khả năng, sở thích, cuộc sống của người ấy thì những dòng chữ viết ra kia dễ đi thẳng vào cảm nhận của mình rồi. Hoặc nét tài hoa của một bức tranh mà bạn mình chia sẻ với mình từng cảm xúc khi sáng tác thì dĩ nhiên mình có thể hãnh diện nói mình “hiểu” nó, “cảm” nó hơn là người bàng quan, cái đó là dĩ nhiên.


    Ở Ngô Thế Vinh chúng ta thấy được sức mạnh nội công ngoại kích ấy. Đó là một người bạn rất chân tình và cũng là người có khả năng tìm hiểu nghiên cứu sâu rộng và khách quan. Với tình bạn, anh có thể tiếp cận và tìm hiểu những người bạn của mình dễ dàng hơn là các tác giả xa lạ. Với tình bạn anh có thể biết tính tình cùng những khía cạnh tình cảm ẩn kín, những nỗi niềm riêng tư của bạn mình, những cái có thể soi sáng tác phẩm hay giải thích một khuynh hướng của người mình nghiên cứu. Trong khi đó thì con người nghiên cứu khách quan của Ngô Thế Vinh vẫn tiếp tục công việc với những nguyên tắc nghiêm nhặt mà anh đã tự đặt ra cho mình từ lâu. Tìm hiểu một con người anh luôn luôn đặt con người ấy vào môi trường lịch sử mà người ấy đã sống, công việc mà người ấy đã làm, quan hệ xã hội đã và đang có.


    Một con người nhiều tính chất “huyền thoại” như Như Phong Lê Văn Tiến, dưới ngòi bút của Ngô Thế Vinh đã hiện ra như một con người thực hơn, cụ thể hơn nhưng cùng lúc chất huyền thoại có thể dày đặc hơn. Ngô Thế Vinh đã trình bày một cách rõ ràng tiểu sử của Như Phong như là một con người cụ thể, khi Như Phong làm báo Tự Do thì “lý lịch” của tờ báo này cũng được trình bày chi li từng giai đoạn; cho đến vai trò “mưu sĩ” của Như Phong giữa thập niên 1960 với khả năng đứng trong hậu trường sắp xếp các vai trò sân khấu chính trị như sắp xếp các quân cờ trên một bàn cờ; rồi đến 1975 trước khi miền Nam mất vào tay cộng sản thì Như Phong với kiến thức sâu rộng về cộng sản luôn luôn thúc dục bạn bè di tản ra nước ngoài nhưng riêng mình thì chọn ở lại để nếm thử thách với nhà tù cộng sản hàng chục năm... Ngô Thế Vinh đã sưu tầm hầu như không sót một khía cạnh nào của cuộc đời Như Phong như những dấu tích cụ thể, nhưng đồng thời cũng phủ dày thêm mảng sương mù huyền thoại quanh con người mang một đời sống tinh thần siêu việt hiếm có này.


    *


    Trong phần giới thiệu Võ Phiến, một nhà văn quan trọng của miền Nam trước 1975, tôi chú ý nhất đến đoạn Ngô Thế Vinh thẩm định về bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến.


    Cho đến khi bộ Văn Học Miền Nam ra đời, chúng ta mới biết được rằng sự nghiệp văn học của miền Nam từ 1954 đến 1975 thật là quan trọng và đồ sộ, nhưng vẫn thiếu một cây bút phê bình đích thực, bao quát hết giá trị văn học trong hai thập niên của một quốc gia. Có lẽ vì nền văn học nghệ thuật ấy còn đang trẻ quá, sung sức quá, khiến cả xã hội chưa thấy có nhu cầu tổng kết cho nên chưa nảy ra một tài năng để đánh giá một cách bao quát. Giống như một người khi tương đối còn trẻ đầy sinh lực thì người ấy muốn dùng sinh lực của mình để sáng tạo chứ chưa thấy có nhu cầu... viết hồi ký, tức là nhìn lại để thẩm định chính mình. Nhưng rồi kẻ ấy bị bức tử trong tuổi thanh xuân đang phơi phới, không những thế bao nhiêu sự nghiệp tinh thần ngồn ngộn phong phú bị kẻ chiếm đoạt làm mồi cho lửa hết, đốt sạch, tận diệt trong một cơn hả hê thú vật.


    Và sau đó thì sao nữa? Giới cầm bút, cầm cọ, ôm đàn..., nói chung người của văn học nghệ thuật và văn hóa, ai chạy thoát thì tán loạn khắp thế giới, kẻ còn lại thì bị gom hết vào tù. Rồi sao nữa? Hơi hoàn hồn lại thì có người nghĩ tới việc cần làm một cái gì đó để lưu giữ được chừng nào hay chừng đó cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ của hai mươi năm của một quốc gia non trẻ. Hai tay trắng đứng giữa một xứ sở xa lạ, bắt đầu từ đâu? với vốn liếng nào?


    Nhưng bao giờ cũng thế, tất cả phải bắt đầu từ một tư tưởng, một ý nghĩ. Không có cái thao thức đầu tiên ấy thì rốt cuộc cũng chẳng gì xảy ra. Và cái sự nghiệp lớn lao kia của miền Nam sẽ dần dần tan biến, bị quên lãng trong cuộc sống luôn luôn lao về phía trước. Cái tia chớp trong đầu của một cá nhân đó, rồi ra sẽ là một cái gì đó rất vĩ đại, thành một công ơn lớn đối với di sản tinh thần của một dân tộc. “Bên thắng cuộc” ra tay đốt, cấm đoán, lên án, cầm tù..., mọi việc công khai rõ rệt dưới ánh mặt trời giữa một miền Nam sau ngày 30 tháng Tư 1975. Cả dân tộc biết. Cả thế giới biết. Nhưng từ một ánh chớp trong đầu một cá nhân đơn độc lại có khả năng gầy dựng lại, từ một viên gạch, rồi hai viên gạch, một hàng gạch, dần dần thành hình hàng lối. Ý tưởng được chia sẻ, các thiện chí hưởng ứng, góp tay vào tìm kiếm sách vở tài liệu. Dần dần thành một kiến trúc: bộ Văn Học Miền Nam đã thành hình sau 15 năm miệt mài.


    Dù có một số lời chê bai từ nhiều động lực khác nhau, cái công trình đó vẫn là nền tảng cực kỳ cần thiết và quý giá làm căn bản để tìm lại một thiên đàng đã mất là nền văn học của nước Việt Nam Cộng Hòa trong hai mươi năm hiện diện cuả nó. Công trình đó chỉ do MỘT người chấp bút: Võ Phiến.


    Trong bài viết về Võ Phiến trong sách này, Ngô Thế Vinh đã nhận xét một cách khách quan:


    “Người ta đã nặng lời trách ông về những phần thiếu sót trong bộ sách ấy: như khi ông đã gạt một số tên tuổi văn học của thời kỳ 1954-75 ra khỏi bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan, rồi cả cách ông phê bình các nhà văn, nhà thơ được ông chọn đưa vào sách cũng bị ông sử dụng cái sở trường văn phong tuỳ bút / nay thành sở đoản để châm biếm mỉa mai cá nhân với nhiều định kiến thiên lệch.


    Nhà văn Mặc Đỗ nhóm Quan Điểm thì thật sự bất bình, Mai Thảo nhóm Sáng Tạo trong lần trò chuyện cuối cùng với Thuỵ Khuê 07/ 1997 cũng không kềm được cảm xúc nói tới bọn vua Lê chúa Trịnh’, và nói thẳng:‘Võ Phiến cũng có chỗ được chỗ không được. Đại khái như phê bình văn học, đối với tôi thì không được. Văn Học Miền Nam tổng quan đó thì không được. Thơ dở. Tạp văn hay’.


    “Biết thiếu sót, biết trước có những hạn chế nhưng chính Võ Phiến, trái với bản chất thâm trầm và thận trọng cố hữu, Võ Phiến vẫn liều lĩnh - như một "risk taker", ẩn nhẫn làm một công việc tốn rất nhiều công sức và cả nhiều rủi ro như thế. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trong suốt hơn 15 năm từng bước hoàn thành công trình Văn Học Miền Nam với hơn ba ngàn trang sách ấy, Võ Phiến vẫn đang là một công chức sở Hưu bổng làm việc full time cho quận hạt Los Angeles, như vậy là ông đã phải làm việc ngoài giờ và những ngày cuối tuần. Võ Phiến về hưu tháng 7 năm 1994, ông tiếp tục viết thêm 5 năm nữa để hoàn tất toàn bộ Văn Học Miền Nam 1999. Nếu không có hùng tâm, với công sức của một cá nhân khó có thể làm được như vậy.”


    Thiết tưởng Ngô Thế Vinh đã có cái nhìn công bình với công trình lớn lao này của Võ Phiến vậy.


    *


    Kết thúc bài điểm sách này ở đây, theo tôi, là quá sớm; nhưng nếu tiếp tục, lại quá trễ.


    Hầu như chương nào của cuốn sách (mỗi chương đề cập đến một nhân vật) cũng đầy lôi cuốn: thông tin về tiểu sử, về cuộc sống của nhân vật ấy rất đầy đủ và linh động; thông tin về hoạt động văn học nghệ thuật hay văn hóa của người đó lại càng phong phú với rất nhiều tài liệu liên hệ được chọn lọc kỹ càng; rồi những kỷ niệm của tác giả với nhân vật trong quan hệ đôi khi rất chằng chịt giữa bạn bè lại càng tô đậm những nét quyến rũ của những loại tài liệu riêng tư chỉ mình tác giả có...


    Nhưng trong công việc giới thiệu một cuốn sách, việc trích dẫn từng chương chỉ là đưa ra những thí dụ để minh chứng cho các nhận xét chung của mình. Dù có tiếc, có muốn tiếp tục giới thiệu các chương rất hay còn lại cũng không nên, vì độc giả mới là kẻ ưu tiên được quyền khám phá hết toàn diện tác phẩm, xin dành cho độc giả việc khám phá những mảnh đất chưa một người nào đặt chân tới. Vâng, chúng tôi xin giữ lại những vùng còn rộng mênh mông đầy quyến rũ ấy cho quý vị.


    Chúng ta đang có trong tay một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng đồng thời cũng là một cuốn truyện kể đầy nghệ thuật. Loại viết này tôi cho là rất mới, nó giới thiệu cho chúng ta những khuôn mặt, hay nói như tác giả, những chân dung --với hình ảnh rõ rệt và chi tiết toàn diện về nhân vật ấy. Dù không hẳn là một tác phẩm phê bình văn học nghệ thuật, nhưng tác phẩm này giúp chúng ta nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, dĩ nhiên chủ yếu là chân dung tinh thần.


    Chân dung ấy chỉ có được bởi một người rất thiết tha với văn học, nghệ thuật và văn hóa của xứ sở, dùng kiến thức giàu có và kinh nghiệm sống của chính mình để tạo nên. Trước đây năm sáu mươi năm Nguyễn Mạnh Côn đã viết cuốn “Đem tâm tình viết lịch sử” thì với cuốn sách này, tôi xin gọi tác giả Ngô Thế Vinh là người đem tâm tình viết nên một mảng văn học nghệ thuật và văn hóa của miền Nam trước năm 1975. Chỉ qua một số nhân vật, nhưng như đã nói ở một đoạn trên, những cái bóng của họ đã phủ một khoảng rộng trong không gian miền Nam thời ấy, góp phần khá lớn vào việc tạo dựng lại đặc tính của một nền sáng tạo tự do, mà cho đến bây giờ người dân Việt Nam khi nhớ lại hãy còn ao ước.


    Xin trích lại một câu thâm trầm trong cuốn sách này để thay lời kết:


    “Thời gian đã mất, nhưng rồi qua ký ức trí tuệ của Proust thời gian tìm thấy lại, và đã trở thành thời gian bất tử.”


    28.8.2017







  • Suy nghĩ về nghiên cứu y học ở VN: nhu cầu thoát khỏi cái hộp

    Posted on: 13 October 2017, 3:30 pm



    Vấn đề chọn đề tài nghiên cứu


    Có thể nói là tuyệt đại đa số đề tài nghiên cứu không có cái mới. Ngoại trừ 2 nghiên cứu về vi cấu trúc xương và pharmacocoeconomics, tất cả các nghiên cứu còn lại là những vấn đề như vitamin D, body composition, mật độ xương ở các bệnh nhân như tiểu đường, COPD, thận mãn tính đều không có cái mới. Thiếu cái mới trong ý tưởng, cái mới về cách tiếp cận, cái mới trong phân tích, cái mới trong cách trình bày và diễn giải. Dĩ nhiên, chúng ta phải làm những đề tài "me too" để học hành, nhưng nếu ngay cả những đề tài loại này mà vẫn còn quá nhiều thiếu sót thì đó là điều phí thì giờ và công sức của nhiều người, kể cả của người làm. Một số đề tài khác thì mang tính thống kê mô tả hơn là nghiên cứu khoa học. Có vẻ như nhiều bạn chưa phân biệt được sự khác biệt giữa phân tích thống kê và nghiên cứu khoa học.


    Vấn đề thiết kế nghiên cứu


    Không nói ra thì nhiều bạn cũng đã đoán được là đa số đề tài nghiên cứu đều dựa vào mẫu thuận tiện hơn là có thiết kế có hệ thống. Có rất nhiều nhóm làm nghiên cứu trên đối tượng là bệnh nhân của bệnh viện (giống như lấy mẫu thuận tiện) mà không biết bệnh nhân có đồng thuận. Những tiêu chuẩn nhận vào và loại trừ chưa được xác định theo kiến thức về bệnh lí và sinh học, thành ra có khi kết quả khó diễn giải. Hầu hết các “nghiên cứu thuận tiện” này không có nhóm chứng nên kết quả rất khó hiểu. Đây là một vấn đề phổ biến nhất trong các nghiên cứu y học ở VN vì có lẽ người ta chưa nghĩ đến nhu cầu và ý nghĩa của nhóm chứng. Nếu nghiên cứu cho thấy tỉ lệ loãng xương ở những người mắc bệnh tiểu đường là 40% thì con số đó chỉ là một thống kê, chứ không nói lên gì cả, càng chẳng có ý nghĩa lâm sàng. Có nghiên cứu có nhóm chứng nhưng được chọn tuỳ tiện nên kết quả càng khó hiểu. Nói chung, tôi thấy vấn đề thiết kế nghiên cứu và đo lường là điểm yếu nhất của các nghiên cứu trong hội nghị.


    Vấn đề phân tích dữ liệu


    Dữ liệu không tốt thì phân tích dữ liệu cũng cho ra kết quả không tốt. Dù vậy, đa số phân tích rất đơn giản và chủ yếu là mô tả. Mô tả tỉ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn, v.v. mà chưa quan tâm đến khoảng tin cậy 95%. Cũng có vài phân tích tương quan, nhưng cách làm chưa đạt và chủ yếu là để cho máy tính làm. Chưa thấy phân tích đa biến. Một “bệnh” rất phổ biến là các em ấy chia nhóm các biến liên tục một cách tuỳ tiện. Ví dụ như độ tuổi thì chia thành nhiều nhóm theo 5 hay 10 tuổi tuỳ hứng. Cân nặng cũng chịu chung “số phận” bị cắt ra thành nhiều mảnh. Nhiều báo cáo mà tác giả trình bày hàng chục bảng số liệu cộng thêm hàng chục biểu đồ, làm cho khán giả mất tập trung và khó theo dõi. Điều đáng nói là các bảng biểu này rất đơn giản, và có thể giảm xuống còn chỉ 3 bảng biểu là đủ. Thế nhưng tác giả cứ mô tả hết biến này đến biến khác theo phân tích đơn biến, nên người xem không biết cái nào là chính và cái nào là phụ. Nói chung, phương pháp phân tích chưa được thiết kế có bài bản và bám sát mục tiêu nghiên cứu.


    Vấn đề trình bày kết quả


    Phần trình bày kết quả nghiên cứu cũng cần cải tiến, vì quá thô sơ và chủ yếu là thống kê. Như nói trên, các em ấy báo cáo quá nhiều bảng biểu đơn biến mà thiếu tập trung vào điểm chính. Vài nhận xét chung như sau:


    • Bảng biểu thiếu tựa đề cho dễ hiểu;
    • Con số trình bày quá nhiều số lẻ;
    • Biểu đồ quá thô và đơn giản, vi phạm hầu như tất cả qui ước về soạn biểu đồ;
    • Chọn màu sắc không thích hợp (như chữ màu đen trên nền màu xanh đậm);
    • Chọn font chữ không thích hợp cho khán phòng;
    • Cách nói: họ nói với slides thay vì nói với khán giả.


    Rất nhiều điểm khác cũng cần cải tiến. Không chỉ cách soạn báo cáo mà còn cách nói. Không phải chỉ mấy em trẻ mà ngay cả các bậc “trưởng lão” cũng cần phải cải tiến cách trình bày báo cáo khoa học.


    Vấn đề diễn giải kết quả nghiên cứu


    Tôi có cảm giác các báo cáo viên bị ám ảnh quá nhiều về số liệu thống kê và làm lu mờ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa lâm sàng của nghiên cứu. Hầu hết các báo cáo viên chỉ nói về kết quả thống kê, như hệ số tương quan, trị số P, kiểm định Ki bình phương, vv mà không nói Ý NGHĨA của các kết quả này. Có báo cáo tôi không thấy effect size ở đâu mà chỉ thấy P0.05 chi chít rất nhức mắt. Các bạn ấy chưa đặt kết quả phân tích thống kê trong bối cảnh lâm sàng. Tuyệt đại đa số báo cáo chỉ dừng ở “có ý nghĩa thống kê” mà không nói nó có ý nghĩa gì trong lâm sàng. Các bạn ấy chưa tự hỏi kết quả nghiên cứu của mình có phải do bias, confounder hay ngẫu nhiên.

    0>

    Do đó có nhiều hiểu lầm và lạc quan thái quá. Chẳng hạn như có nghiên cứu cho thấy một công cụ screening có độ nhậy là 90% và độ đặc hiệu là 40%, em ấy kết luận rằng công cụ này có thể ứng dụng trong lâm sàng. Nhưng em ấy không thấy rằng kết quả đó cũng cho thấy dương tính giả là 60%, và như thế thì chưa dùng trong lâm sàng được. Đó chỉ là một ca tiêu biểu, chứ trong thực tế thì nhiều ca lắm.


    Nói tóm lại, chỉ qua một hội nghị loãng xương mà tôi có thể nhận dạng ra nhiều vấn đề. Những vấn đề nêu trên thật ra không chỉ hiện diện trong chuyên ngành xương, mà còn ở các chuyên ngành khác mà tôi có dịp tiếp xúc. Dù sao đi nữa thì chuyên ngành xương cũng chỉ là một “bộ lạc” nhỏ trong cái bộ lạc khoa học rộng lớn hơn, nên những vấn đề nêu trên cũng phản ảnh một phần bức tranh lớn của khoa học VN. Nêu ra vấn đề không phải để chê trách (hoàn toàn không) mà để biết được những khía cạnh chúng ta phải cải tiến để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học.


    Năng lực NCKH của ta không đến nỗi tệ nếu như các đồng nghiệp được huấn luyện có bài bản. Vấn đề là các bậc “trưởng lão” cần phải được huấn luyện lại, họ cần phải học về phương pháp nghiên cứu khoa học, chứ không nên giả định rằng mình đã là giáo sư hay phó giáo sư rồi nên đã biết hết rồi, không cần học nữa.


    Có giáo sư có thể do mặc cảm nên không bao giờ theo học các lớp học về NCKH và thế là họ làm khổ đàn em. Điều này đúng vì có những em bác sĩ nội trú rất thông minh và chịu khó học hỏi, nhưng vì phụ thuộc vào đề tài của thầy cô nên họ cũng phải chịu chung số phận “low quality”. Có em thậm chí nói riêng với tôi rằng em biết đề tài của em chẳng có giá trị khoa học gì, nhưng vẫn phải làm theo ý của thầy cô! Có em đã có dịp so sánh các bài báo cáo trong hội nghị và quyết chí xin học bổng để đi học ở nước ngoài.


    Tôi nghĩ nghiên cứu y học nếu muốn hội nhập quốc tế thì cần phải “thoát li” khỏi cách làm hiện nay. Thoát li khỏi những đề tài tủn mủn, ý tưởng quá cũ. Thoát li khỏi các mô hình “nghiên cứu thuận tiện.” Thoát li khỏi những ràng buộc của giáo điều thống kê và dịch tễ học cơ bản. Thoát khỏi cách diễn giải một chiều và chủ quan. Chỉ thoát li khỏi các vấn đề trên thì y học VN mới có cơ may đóng góp có ý nghĩa vào y văn thế giới.


  • Nghe Khánh Ly ca ở Đà Nẵng (show nhạc "55 năm hát tình ca")

    Posted on: 13 October 2017, 3:13 pm


    Chương trình theo vé là bắt đầu vào lúc 8 pm, nhưng phải 15 phút sau thì mới bắt đầu. Khách ngồi gần như đầy khán phòng rạp hát Trưng Vương ở Đà Nẵng. Nhiều khách thưởng lãm là người có tuổi (như tôi), nhưng cũng có hơn 1/3 (tôi đoán) là những người trẻ tuổi. Thế mới biết “nhạc vàng” vẫn có sức hút mạnh ngay cả trong giới trẻ ở thế kỉ 21.



    Vào chương trình Khánh Ly chầm chậm bước ra sân khấu (có lẽ do vấn đề khớp). Nhưng chị giữ cái composure rất tuyệt vời trước khán giả. Chị nói tự sự về sự nghiệp ca hát của chị. Tính đến nay, Khánh Ly đã ca hát 55 năm, và đó là chủ đề của show nhạc. Trong nền nhạc nhẹ và ảnh minh hoạ, Khánh Ly mặc áo dài màu vàng kể lại lần đầu chị xuất hiện trên sân khấu là lúc 9 tuổi trong một cuộc thi ca nhạc (nhưng không được ba mẹ cho phép), và thế là bị ba mẹ phạt nặng. Sau đó là cơ duyên gặp Trịnh Công Sơn (mà ai yêu nhạc cũng đều biết) và mở đầu cho sự nghiệp nghệ thuật sáng chói của chị.


    Sau đó, chị “chiếm lĩnh” sân khấu suốt 3 giờ đồng hồ. Tôi thán phục cho khả năng thuyết phục khán giả của chị và sức khoẻ ở tuổi 72. Nhiều người nghĩ ở độ tuổi đó thì chắc chị “còn ca hát gì nữa”! Thật là sai lầm, và thật là tội nghiệp cho sự hiểu lầm kiểu assumed như thế. Ở tuổi 72 mà giọng hát của Khánh Ly vẫn như ở tuổi 20. Không sai một lời nhạc. Chẳng cần tờ giấy trên tay. Chẳng vấp một nốt nhạc.


    Trước khi trình bày một bài ca, Khánh Ly tự giới thiệu và dẫn chuyện qua những câu chuyện, những cảm xúc, những kỉ niệm, nhưng suy tư về nhân tình thế thái. Khánh Ly không dùng sáo ngữ, nhưng một ca sĩ trong nước thì nói những câu cảm tính và sáo ngữ làm tôi nổi da gà. Sợ nhất cái “bệnh” sáo ngữ mà ý nghĩa thì chẳng dính dáng đến bài ca. Có sự tham gia diễn của ca sĩ Quang Thành, Kim Anh hát những bài của Lam Phương và Hoàng Thi Thơ rất sống động và hay.


    Khánh Ly trình diễn những ca khúc của nhiều nhạc sĩ chứ không phải chỉ của Trịnh Công Sơn. Những ca khúc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên, Anh Bằng, Nguyễn Đình Toàn, v.v. Riêng các ca khúc của Trịnh Công Sơn chiếm gần phân nửa chương trình. Đó là những ca khúc quen thuộc như Diễm xưa, Ngày trở về, Bến xuân, Ru ta ngậm ngùi, Hạ trắng, Người già em bé, Bà mẹ Ô Lý, Giọt nước mắt cho quê hương, Ca dao của mẹ, Xin cho tôi, Chờ nhìn quê hương sáng chói. Những ai biết nhạc trước 1975 có lẽ nhận ra “hơi hám” của “Ca khúc Da Vàng” trong vài ca khúc trên, và đó là sự tiến bộ của Đà Nẵng, nơi chị ấy nói là “thành phố tử tế”. Tôi thấy bài nào chị ấy hát cũng hay và hát hết mình. Chị không làm phụ lòng khán giả dù chỉ một phút. Nếu có phê bình tôi chỉ hơi tiếc một điều là ban nhạc chơi chưa đạt. Có lúc tiếng đàn và trống lấn át tiếng ca.


    Chẳng hiểu sao trong một phút giây thăng hoa nào đó, cái câu “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” cứ ám ảnh tôi. Tôi như người được đi một chuyến xe về miền quá khứ, nơi mà những ước vọng vang lên gần như mỗi ngày:


    Xin cho mây che đủ phận người
    Xin cho tôi một sáng trời vui
    Xin cho tôi đến tận nụ cười


    Hay như những chờ đợi:


    Chờ mai này ta dậy trong tiếng hò reo
    Chờ cho lòng căm thù đến lúc chìm sâu
    Chờ hòa bình đến, chờ tiếng bom im
    Chờ bước đi trên những con đường không chông mìn
    Chờ đường giao thông chấp nối chuyến xe qua ba miền


    Mà, cho đến nay, chúng ta vẫn còn chờ.


    Mỗi ca khúc đều được minh hoạ bằng những thước phim ngắn làm nền trên mành ảnh. Điều thú vị là hình ảnh và phim làm nền cho sân khấu có cả trực thăng và xe jeep thời chiến tranh, những thước phim tản cư trong “mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Hay nhất là hình nền có cả ca khúc “Ai trở về xứ Việt” gây cho tôi nhiều cảm xúc (nhưng tôi nghĩ đa số khán giả không biết hay không chú ý đến ca khúc này.)


    Nói chung, chương trình ca nhạc “55 hát tình ca” của Khánh Ly tại Đà Nẵng là rất ấm cúng. Qua 180 phút, Khánh Ly đã thôi miên và đưa tôi và khán giả về miền kí ức với những ca khúc đầy ấp kỉ niệm và cảm xúc. Thành ra, khi nghe Khánh Ly nói đây là show nhạc giã từ sân khấu của chị, nhiều người thấy luyến tiếc, bồi hồi. Nghĩ đến ngày chúng ta sẽ không thấy Khánh Ly trên sân khấu, thì quả là một khoảng trống nghệ thuật rất lớn. Việt Nam sẽ không có một Khánh Ly thứ hai — dĩ nhiên. Âm nhạc Việt Nam sẽ vắng tiếng hát liêu trai đầy truyền cảm. Người mộ điệu sẽ không còn nghe nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát thôi miên của Khánh Ly. Nhưng Khánh Ly sẽ sống mãi trong lòng người mộ điệu nhạc Việt như là một huyền thoại.







  • Older news items:

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: