Bài vở của GS Nguyễn Văn Tuấn, Úc Châu

Category: General Published: 16 April 2017
Hits: 1939

Nguyễn Văn Tuấn là một nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Ông hiện là nghiên cứu viên chính tại viện Garvan, Úc.

Ông sinh ra và lớn lên tại Kiên Giang. Vượt biên rời Việt Nam bằng thuyền năm 1981, năm 1982 ông sang định cư tại Úc.

Khi sang Úc định cư, ông bắt đầu bắc các công việc phụ bếp, rồi làm phụ tá trong phòng thí nghiệm sinh học tại Bệnh viện St. Vincent’s.

Từ năm 1987-1997: Ông lần lượt tốt nghiệp Thạc sĩ thống kê Đại học Macquarie (Úc), Tiến sĩ y khoa Đại học New South Wales (Úc), Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ (postdoc) tại đại học Wright State, Mỹ và Đại học Basle, Trung tâm nghiên cứu lâm sàng Sandoz (Thụy Sĩ) và Bệnh viện St Thomas (Anh).

Năm 2009, ông được bổ nhiệm chức danh Giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học New South Wales (Úc) trong khi công việc chính vẫn là nghiên cứu viên chính của viện Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Úc. Từ năm 2008 - 2013 ông được làm Nghiên cứu viên cao cấp Hội đồng quốc gia về nghiên cứu y khoa và y tế Úc (NHMRC).[1]

Trên trường quốc tế ông đã có gần 150 công trình nghiên cứu khoa học mà 70% là về di truyền học, 30% là dịch tễ học.

Ngoài lĩnh vực Y khoa tạo nên tên tuổi, ông cũng dành thời gian viết về nghiên cứu văn học và báo chí, với những bài viết sắc sảo trên những tờ báo lớn ở Việt Nam.

Bài viết đầy đủ khác của GS Nguyễn Văn Tuấn tại trang chủ tuanvannguyen.blogspot.com.

tuan's blog

  • Thông báo #2: Workshop "Thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu"

    Posted on: 5 December 2017, 5:27 pm



    Đây là một khoá học căn bản, theo hình thức "workshop" dành cho các nghiên cứu sinh và sinh viên muốn làm nghiên cứu khoa học. Mục tiêu chung của khoá học là giới thiệu các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học, các mô hình nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu. Học viên sẽ làm quen với cách đặt vấn đề nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, các phương pháp thống kê cơ bản. Chúng tôi sẽ nhấn mạnh đến việc ứng dụng các phương pháp mô hình hoá dữ liệu qua một số ca nghiên cứu cụ thể của chúng tôi và các đồng nghiệp khác. Chúng tôi kì vọng học viên sau khi xong lớp học sẽ học về:


    • qui trình nghiên cứu;
    • chọn mô hình nghiên cứu thích hợp;
    • dùng ngôn ngữ R cho phân tích dữ liệu;
    • diễn giải các phương pháp phân tích mô tả;
    • ứng dụng các mô hình hồi qui tuyến tính, hồi qui logistic, mô hình Cox và phương pháp phân tích sống còn;
    • cách trình bày kết quả phân tích cho các bài báo khoa học;
    • cách báo cáo nghiên cứu bằng Powerpoint.


    Lớp học được thiết kế dành cho các sinh viên sau đại học, nghiên cứu sinh, giảng viên, nhà khoa học có nhu cầu nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu. Tuy nhiên, sinh viên đại học cũng có thể ghi danh để học về nghiên cứu khoa học. Học viên không cần có kiến thức cơ bản về thống kê học.


    Khóa học sẽ kéo dài 12 ngày từ 25/12/2017 đến 7/1/2018. Phần I của lớp học từ ngày 25/12/2017 đến 30/12/2017. Phần II từ ngày 2/1/2017 đến 7/1/2017.


    Chương trình sẽ chia làm hai phần, mỗi phần 6 ngày. Chủ đề phần thứ nhất là thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu, với 18 bài giảng. Chủ đề phần thứ hai là về cách viết bài báo khoa học và báo cáo, với 13 bài giảng. Mỗi bài giảng sẽ kèm theo phần thực hành để học viên có kinh nghiệm thực tế.


    Phần I: Thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu gồm 18 bài giảng như sau:


    Bài 1 Qui trình nghiên cứu khoa học

    Bài 2 Chọn mô hình nghiên cứu

    Bài 3 Giới thiệu R

    Bài 4 Phương pháp thu thập dữ liệu

    Bài 5 Quản lý dữ liệu

    Bài 6 Phân tích mô tả (biến liên tục, biến phân nhóm)

    Bài 7 Phân tích bằng biểu đồ

    Bài 8 Giới thiệu ý tưởng kiểm định giả thuyết

    Bài 9 Phương pháp so sánh 2 nhóm (biến liên tục)

    Bài 10 Phương pháp so sánh 2 nhóm biến định tính

    Bài 11 Phân tích tương quan: giới thiệu khái niệm "tương quan" (correlation) và phương pháp ước tính hệ số tương quan.

    Bài 12 Mô hình hồi qui tuyến tính

    Bài 13 Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến

    Bài 14 Mô hình logistic đơn biến

    Bài 15 Mô hình logistic đa biến

    Bài 16 Phân tích sống còn (survival analysis)

    Bài 17 Mô hình Cox

    Bài 18 Sai sót phổ biến trong thiết kế nghiên cứu và phần tích dữ liệu



    Phần II: Cách viết bài báo khoa học và trình bày, bao gồm 15 bài giảng

    Bài 1 Kĩ năng soạn Powerpoint

    Bài 2 Kĩ năng trình bày trong hội nghị

    Bài 3 Cấu trúc bài báo khoa học

    Bài 4 Tiếng Anh trong bài báo khoa học

    Bài 5 Chuẩn bị trước khi viết bài báo khoa học

    Bài 6 Cách đặt tựa đề

    Bài 7 Cách viết phần dẫn nhập (introduction)

    Bài 8 Cách viết phần phương pháp (methods

    Bài 9 Cách viết phần kết quả (results)

    Bài 10 Cách trình bày biểu đồ / bảng số liệu

    Bài 11 Cách viết phần bàn luận (discussion)

    Bài 12 Cách chọn tập san

    Bài 13 Cách trả lời bình duyệt

    Bài 14 Cách viết thư đệ trình (cover letter)

    Bài 15 Chia sẻ về cách viết cảm tạ, tài trợ, tài liệu tham khảo


    Học viên sẽ được làm pre-test trước lớp học và post-test sau lớp học để tự kiểm tra trình độ. Tất cả bài giảng và dữ liệu thực hành sẽ được cung cấp cho học viên qua USB hay bản photocopy. Học viên sẽ có một cuốn sách mới xuất bản "Phân tích dữ liệu bằng R: hỏi và đáp" do nhà xuất bản Tổng Hợp phát hành vào tháng 12 năm nay.


    Mọi thông tin vui lòng liên hệ: Phòng quản lý phát triển khoa học và công nghệ, Phòng A303, số 19, Đường Nguyễn Hữu Thọ, P. Tân Phong, Q.7, TP. HCM. Điện thoại: (028) 37755 037; Email: hatrongnghia@tdt.edu.vn


    Tải thông báo:


  • Ô nhiễm không khí và loãng xương

    Posted on: 5 December 2017, 5:09 pm




    Câu chuyện đằng sau là tôi duyệt bài của các tác giả Mĩ, và tôi cho họ nhiều góp ý để cải tiến cách viết và y văn. Họ là dân ngoại cuộc về osteoporosis nên không am hiểu vấn đề “bộ lạc” đang quan tâm. Thế là ban biên tập đề nghị tôi viết luôn bài xã luận, vì tác giả không thể sửa hết những gì tôi muốn họ sửa. Nhưng họ cho tôi chỉ 1 tuần thôi, mà lúc đó tôi còn bận túi bụi ở Đà Nẵng! Thế là thương lượng qua lại, họ ok cho tôi 2 tuần. Tôi từng viết nhiều xã luận nhưng ít khi nào được báo chí phổ thông chú ý như bài này (2,3). Tôi đoán là do ô nhiễm không khí nó động đến quá nhiều người nên họ quan tâm.


    Nhưng đó là chuyện “người ta”; quan trọng hơn là chuyện của VN. Tôi nghĩ ô nhiễm không khí là vấn đề lớn ở Việt Nam. Mỗi năm có hàng 9-10 triệu người trên thế giới chết có liên quan đến ô nhiễm không khí. Nếu VN làm nghiên cứu, tôi nghĩ ô nhiễm không khí có thể còn hơn cả tai nạn giao thông về thủ phạm gây bệnh tật và tử vong.


    ===







  • Giải thưởng Alexandre Yersin

    Posted on: 4 December 2017, 1:44 am



    Đây là giải thưởng do Hiệp hội Y khoa Thuỵ Sĩ – Việt Nam (Swiss-Vietnamese Medical Association, hay HELVIETMED) sáng lập nhằm ghi nhận những thành tựu khoa học xuất sắc. Giải thưởng dựa trên công bố quốc tế trong vòng 24 tháng (tính đến ngày trao giải thưởng). Qua giải thưởng, Ban tổ chức cũng muốn khuyến khích các bác sĩ và nhà nghiên cứu y học ở Việt Nam đóng góp vào y văn quốc tế.


    Chi tiết về giải thưởng, điều kiện và tiêu chuẩn đánh giá, có thể xem qua ở đây:



    Có đến 3 giải, và mỗi giải trị giá 30 triệu đồng.


    Các bạn có thể share hay forward thông báo này đến bạn bè mình hay những người liên quan. Càng nhiều càng tốt. Chỉ còn 3 tuần nữa thôi là hết thời hạn nộp đơn rồi. Nhanh lên!


    ===


    Sẵn đây cũng xin thông báo đến các bạn là Giải thưởng Ton Duc Thang University Prize (dành cho lifetime achievement, rising star, và women) thì đã đóng sổ rồi, ban tổ chức không nhận thêm đơn nữa. Tất cả các hồ sơ đã được gửi ra cho các giáo sư nước ngoài (4) và trong nước (1) bình duyệt và cho điểm. Hi vọng kết quả sẽ có nay mai. Đây là giải dành cho các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực trong và ngoài nước.

  • Bạn đã nghe đến "Nocebo Effect" chưa?

    Posted on: 26 November 2017, 4:33 pm



    Chắc đa số chúng ta đều biết ý nghĩa của hiệu ứng placebo. Nếu các bạn không nhớ thì xin nhắc một cách ngắn gọn. Nếu một người được cho uống thuốc giả (giả dược) nhưng người đó lại cảm thấy thuốc có hiệu quả, thì đó là hiệu ứng placebo. Nói cách khác, hiệu ứng placebo là hiện tượng khi một người cảm thấy có tác động tích cực, không phải do hiệu quả của một phương cách điều trị đem lại, mà có thể do tâm lí của bệnh nhân nghĩ [hay kì vọng] rằng họ đang được điều trị bằng thuốc thật. Hiệu ứng placebo rất kì diệu, vì nó có thể giải thích tại sao người ta khỏe mạnh và thoải mái sau khi được cho dùng ... thuốc giả.


    Hiệu ứng nacebo thì có ý nghĩa ngược lại với hiệu ứng placebo. Khi một người uống thuốc, và trải qua một tác động xấu (adverse event) chẳng có liên quan gì đến thuốc, nhưng người đó lại nghĩ rằng tác động đó là do thuốc gây ra. Điều thú vị là hiệu ứng nocebo không hẳn là ngẫu nhiên, mà có thể chịu tác động bởi những cảnh báo bề ngoài hộp thuốc. Khi tờ thông tin của thuốc giả ghi rằng bệnh nhân có thể bị tiêu chảy, thì bệnh nhân có nguy cơ bị tiêu chảy cao. Nói cách khác, hiệu ứng nocebo có nghĩa là kì vọng rằng can thiệp gây ra tác động xấu dù can thiệp đó đáng lí ra chẳng gây tác động xấu.


    Nếu các bạn đọc báo cáo của những công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial - RCT) thì có lẽ chú ý rằng hai nhóm bệnh nhân, một nhóm dùng thuốc thật và một nhóm dùng thuốc giả, nhưng đều có những tác động xấu giống nhau hay tương đương nhau. Trong thực tế, chúng ta biết rằng nhóm dùng thuốc giả chẳng "nên" có tác động gì cả (vì đó chỉ là ... đường), nhưng vì có lẽ bệnh nhân nghĩ rằng họ dùng thuốc thật và từ đó nghĩa rằng họ đang kinh qua tác động xấu! Đó cũng là một hiệu ứng tâm lí.


    Chữ "nocebo" xuất phát từ tiếng Latin, "noceo", có nghĩa là tác hại hay "tôi sẽ gây tác hại" (còn placebo cũng xuất phát từ tiếng Latin có nghĩa là "tôi sẽ hài lòng" -- I shall please.) Có thể nói rằng những người tin vào tử vi và khi họ mắc bệnh họ không chịu chữa trị vì nghĩ rằng số phận mình và bệnh tật đúng với tử vi, và đó chính là hiệu ứng nocebo.


    Bernard Lown từng nói đại khái rằng chữ là y cụ mạnh mẽ nhất mà người thầy thuốc có được, nhưng chữ cũng như thanh kiếm hai lưỡi, có thể gây tổn thương cũng như có thể chữa lành bệnh ("Words are the most powerful tool a doctor possesses, but words like two-edged sword, can maim as well as heal"). Hiệu ứng placebo và hiệu ứng nocebo chính là những biểu hiện hai mặt của chữ nghĩa vậy.


  • Về sự đa dạng của chức vụ/danh "giáo sư"

    Posted on: 26 November 2017, 4:31 pm



    Tôi không nói những trường hợp được đề bạt hay bổ nhiệm qua một qui trình chuẩn và dựa trên các tiêu chuẩn khoa bảng nghiêm chỉnh. Đó là những người phải trải qua những chức vụ như tutor (trợ giảng), lecturer (giảng viên), senior lecturer (giảng viên cao cấp), associate professor (Việt Nam dịch là phó giáo sư), và professor (giáo sư). Nếu một người có thành tích tốt thì để đi hết đoạn đường từ tutor lên professor cũng phải tốn ít nhất 15-20 năm. Rất nhiều người chỉ dừng lại ở chức associate professor và nghỉ hưu. Nhưng trong thực tế cũng có những trường hợp bổ nhiệm "thần tốc" trong hệ thống đại học. Và, những bổ nhiệm này hoàn toàn được phê chuẩn nghiêm chỉnh. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những trường hợp [có thể xem là] ngoại lệ trong việc bổ nhiệm chức vụ giáo sư ở vài đại học danh tiếng ở Úc.


    Trường hợp 1: từ giám đốc tập đoàn thành giáo sư hiệu trưởng đại học.


    Chúng ta thường nghĩ rằng hiệu trưởng đại học phải là người trong khoa bảng, và chức danh tối thiểu phải là professor hay associate professor. Đó là cách hiểu cổ điển và "cấp thấp"; đối với đại học hiện đại được xem là một "tập đoàn", thì việc bổ nhiệm người ngoài đại học là chuyện khá bình thường. Ví dụ như Đại học New South Wales (nay đổi tên chính thức là "UNSW Sydney") từng có tiền lệ bổ nhiệm một tổng giám đốc của một tập đoàn báo chí Fairfax làm hiệu trưởng và giáo sư đại học. Thật ra, trước khi làm tổng giám đốc của Fairfax, ông cũng từng có thời làm giám đốc trường quản trị kinh doanh của UNSW Sydney. Ông có bằng MBA nhưng không có bằng tiến sĩ. Nhưng khi ông được bổ nhiệm hiệu trưởng của UNSW Sydney, thì người ta phải tìm cho ông một chức danh cao nhất, và đó là "professor". Tuy nhiên, ông ít khi nào dùng danh xưng này trong văn bản hay trong các hội nghị.


    Trường hợp 2: chuyên viên cấp trung trở thành giáo sư đại học và nắm giữ phần nghiên cứu khoa học.


    Chuyện có vẻ khó tin, nhưng hoàn toàn có thật ở một đại học Úc. Anh ấy là một chuyên gia về máy tính và từng làm việc cho một tập đoàn máy tính lừng danh của Mĩ. Anh ấy chưa có bằng tiến sĩ, nhưng có bằng cao học (masters). Anh ấy được đánh giá và có tiếng là một nhà quản lí giỏi. Thế là đại học bổ nhiệm anh ấy vào chức phó hiệu trưởng, phụ trách mảng nghiên cứu khoa học. Nhưng ở chức vụ đó thì phải có một chức danh khoa bảng cho xứng đáng để ăn nói với các giáo sư thứ thiệt. Thế là trường đại học đề bạt anh ấy lên chức giáo sư, mà là "full professor" mới oai chứ! Tôi chưa thấy một đại học nào khác ở Úc có trường hợp này.


    Trường hợp 3: từ lecturer lên thẳng professor.


    Trong hệ thống chức vụ khoa bảng (bây giờ người ta sửa lại là 'học thuật'!) ở Úc thì một nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp tiến sĩ và đã qua hậu tiến sĩ, phải "leo" 3 bậc (lecturer, senior lecturer, và associate professor) trước khi đến chức professor, và mỗi bậc cần khoảng 3-5 năm. Nhưng tại một trường đại học có tiếng của Úc, có một tiến sĩ được bổ nhiệm thần tốc, không thông qua những nấc thang khoa bảng bình thường. Anh ấy là một lecturer thuộc một trường đại học trong nhóm Go8 (tức "Group of Eight", nhóm 8 trường đại học hàng đầu của Úc [1]), với thành tích khoa học rất bình thường. Anh ấy không xin được tài trợ, công bố bài báo ở tập san bậc trung và thấp, nói chung là chẳng có gì nổi trội. Nhưng đùng một cái, trường kia mới thành lập một trung tâm nghiên cứu về một lĩnh vực thời thượng và cần người làm giám đốc. Thế là anh ấy được mời về làm giám đốc, và được thăng chức thẳng lên professor. Quá trình thăng chức cho anh ấy làm nhiều người trong khoa ngạc nhiên, nhưng nói chung chẳng mấy ai ganh tị, vì họ thấy anh ấy may mắn và nói cho cùng thì "việc ai nấy làm." Chẳng ai bỉu môi hay so đo kiểu "anh ấy mà cũng là giáo sư!"


    Trường hợp 4: bổ nhiệm giáo sư làm quản lí.


    Nhiều trường đại học ngày nay, như nói trên, là những tập đoàn giáo dục. Trong cái tập đoàn đó, ngoài giảng dạy và nghiên cứu khoa học, việc kinh doanh và đem tiền về cho đại học trở thành một áp lực cho các giáo sư. Do đó, đại học thành lập rất nhiều doanh nghiệp nhỏ trong đại học nhưng mang những cái tên rất khoa học. Thường, các "giáo sư truyền thống" không có khả năng quản lí nên họ hoặc là làm ăn thua lỗ, hoặc không phát triển được doanh nghiệp. Trong bối cảnh như thế, trường đại học có xu hướng bổ nhiệm các chuyên gia từ kĩ nghệ làm giám đốc các doanh nghiệp con, và vì trong đại học, nên phải cho họ một chức danh khoa bảng. Chức danh cao nhất là giáo sư. Đó chính là lí do tại sao có nhiều người mang danh giáo sư nhưng họ chủ yếu làm quản lí chứ không giảng dạy và rất ít nghiên cứu.


    Trường hợp 5: bổ nhiệm giáo sư với thành tích khoa học cấp giảng viên.


    Tại một đại học trong nhóm Go8 của Úc mới có một trường hợp cũng gây ngạc nhiên cho nhiều người trong giới khoa bảng vì người được bổ nhiệm chức vụ professor có thành tích khoa học rất rất khiêm tốn. Như là một qui ước bất thành văn, một giáo sư thực thụ (full professor) ở Úc phải có ít nhất 50 bài báo khoa học (thường là 100 trở lên), và tập san công bố phải thuộc loại "coi được". Đó là chưa kể đến thành tích ... xin tiền. Thế nhưng người đó là một associate professor trong một ngành khoa học xã hội, với số công trình (bài báo) nghiên cứu chưa đầy con số 5 và chưa bao giờ có một bài báo nào trên tập san ISI, và thành tích xin tài trợ từ các cơ quan như ARC là zero. Thế nhưng vì lí do nào đó mà không ai biết được, trường đề bạt người đó lên chức giáo sư thực thụ. Sự đề bạt cũng làm nhiều người cao mày, nhưng rồi ai cũng nhún vai nói "tại thời thế, thế thời phải thế"!


    Trường hợp 6: bổ nhiệm giáo sư để ... bóc lột.


    Một dạng bổ nhiệm khác cũng phi truyền thống là "conjoint" hay "adjunct". Đây là những trường hợp mà đương sự là một nhà khoa học, thường có bằng tiến sĩ (nhưng không nhất thiết), được các đại học bổ nhiệm làm "conjoint professor" hay "adjunct professor", có thể tạm dịch là "giáo sư liên kết". Những người này thường là các bác sĩ cao cấp trong các bệnh viện, hay các chuyên gia cao cấp trong kĩ nghệ, họ có công đóng góp cho đại học qua việc nhận sinh viên về làm thực hành. Đại học bổ nhiệm họ không qua phỏng vấn; họ chỉ cần điền một cái đơn, và hội đồng khoa bảng của đại học xem xét và bổ nhiệm. Tiêu chuẩn bổ nhiệm chủ yếu là đóng góp cho trường qua đào tạo, chứ không quan tâm mấy đến nghiên cứu khoa học. Do đó, ở các trường y ở nước ngoài có rất nhiều giáo sư, nhưng họ chỉ tồn tại ở dạng liên kết, vì họ "đóng đô" ở bệnh viện hay viện nghiên cứu. Họ không nhận lương của đại học, nhưng khi họ nghiên cứu và công bố khoa học thì đại học yêu cầu họ phải ghi tên đại học trong bài báo! Nói cách khác, đây là một hình thức bóc lột tri thức rất tuyệt vời! Đại học không trả lương cũng chẳng cho phụ cấp gì cả, mà chỉ trao cho cái chức danh "conjoint professor" và kẻ được trao chức danh phải làm việc cho họ. Hiếm thấy cách bóc lột nào mà "đúng qui trình" đến như thế.


    Trên đây chỉ là 6 trường hợp cho 6 loại giáo sư đại học ở Úc. Nó nói lên rằng chức danh hay chức vụ giáo sư ở nước ngoài rất đa dạng. Không phải ai mang cái danh xưng "professor" đều có thành tích khoa học như nhau. Lí do là vì mỗi trường có một bộ tiêu chuẩn riêng, trường danh tiếng và nặng về nghiên cứu khoa học có tiêu chuẩn có thể cao hơn trường kém danh tiếng. Thật ra, ngay cả trong trường thì bộ tiêu chuẩn cũng khác nhau giữa các khoa và chuyên ngành. Đó chính là lí do tại sao có người bên Việt Nam hỏi "sao giáo sư nước ngoài mà lí lịch khoa học mỏng thế". Do đó, không nên nói chung chung rằng "nước ngoài người ta làm như thế," vì nó còn phụ thuộc vào "nước ngoài" là nước nào.


    Nói là ở Úc, nhưng tôi biết một số nước tiên tiến trên thế giới cũng có những bổ nhiệm phi truyền thống như vừa đề cập. Khi đại học người ta phát triển cao và có tiếng, những qui định chỉ là để tham khảo chứ không phải để tuân theo một cách máy móc. Họ đặt ra qui định thì họ có thể sửa qui định. Như vậy, các bạn thấy các đại học danh tiếng họ chẳng mấy quan tâm đến các tiêu chuẩn và qui trình cứng nhắc. Chẳng cần phải có văn bằng tiến sĩ mới trở thành giáo sư. Có khi chẳng cần phải "leo" từng nấc thang khoa bảng, mà có thể đề bạt vào chức vụ thích hợp khi có nhu cầu.


    Chỉ có những người cấp thấp hay quá bận tâm với những tiêu chuẩn cân đo đong đếm hay danh xưng cá nhân, nên hiểu chưa đúng về chức danh giáo sư thời nay. Theo họ, giáo sư là chức vụ hay chức danh dành cho người giảng dạy và/hay nghiên cứu khoa học. Đó là một cách hiểu cũ, không còn thích hợp cho ngày nay nữa. Trong thực tế, các đại học phương Tây (như Úc này) có 3 ngạch giáo sư. Ngạch 1 dành cho những người nghiên cứu khoa học; ngạch 2 dành cho những người giảng dạy và họ ít làm nghiên cứu khoa học; ngạch 3 là những người làm quản lí và dịch vụ, họ chẳng giảng dạy cũng chẳng làm nghiên cứu khoa học, nhưng họ là quan chức cao cấp và có công lớn gầy dựng đại học, nên họ cũng được đề bạt chức danh professor. Không nên quá bận tâm với những chức danh hoặc danh xưng phù phiếm, mà nên quan tâm đến cống hiến mang tính thực chất. Nói cho cùng thì mức độ đóng góp (chứ không phải chức danh) vào sự phát triển của khoa học và giáo dục là một thước đo chuẩn nhất và quan trọng nhất. Chạy theo những danh xưng và tranh cãi về tiêu chuẩn máy móc chỉ làm cho người ta thiếu tập trung -- thậm chí quên lãng -- khái niệm cống hiến. 


    ===


    [1] Các đại học trong nhóm Go8 bao gồm ANU, USydney, UNSW Sydney, UMelbourne, Monash, UQ, Adelaide, và Western Australia. Đây là các đại học 'nghiên cứu', và tiêu chuẩn về chức vụ giáo sư của họ khác với các trường ngoài Go8.




  • Older news items:

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: