Bài vở của GS Nguyễn Văn Tuấn, Úc Châu

Category: General Published: 16 April 2017
Hits: 2268

Nguyễn Văn Tuấn là một nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Ông hiện là nghiên cứu viên chính tại viện Garvan, Úc.

Ông sinh ra và lớn lên tại Kiên Giang. Vượt biên rời Việt Nam bằng thuyền năm 1981, năm 1982 ông sang định cư tại Úc.

Khi sang Úc định cư, ông bắt đầu bắc các công việc phụ bếp, rồi làm phụ tá trong phòng thí nghiệm sinh học tại Bệnh viện St. Vincent’s.

Từ năm 1987-1997: Ông lần lượt tốt nghiệp Thạc sĩ thống kê Đại học Macquarie (Úc), Tiến sĩ y khoa Đại học New South Wales (Úc), Nghiên cứu sinh sau tiến sĩ (postdoc) tại đại học Wright State, Mỹ và Đại học Basle, Trung tâm nghiên cứu lâm sàng Sandoz (Thụy Sĩ) và Bệnh viện St Thomas (Anh).

Năm 2009, ông được bổ nhiệm chức danh Giáo sư kiêm nhiệm tại Đại học New South Wales (Úc) trong khi công việc chính vẫn là nghiên cứu viên chính của viện Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Úc. Từ năm 2008 - 2013 ông được làm Nghiên cứu viên cao cấp Hội đồng quốc gia về nghiên cứu y khoa và y tế Úc (NHMRC).[1]

Trên trường quốc tế ông đã có gần 150 công trình nghiên cứu khoa học mà 70% là về di truyền học, 30% là dịch tễ học.

Ngoài lĩnh vực Y khoa tạo nên tên tuổi, ông cũng dành thời gian viết về nghiên cứu văn học và báo chí, với những bài viết sắc sảo trên những tờ báo lớn ở Việt Nam.

Bài viết đầy đủ khác của GS Nguyễn Văn Tuấn tại trang chủ tuanvannguyen.blogspot.com.

tuan's blog

  • Cống đập chặn mặn, gây rối loạn hệ sinh thái và những cái giá phải trả.

    Posted on: 12 February 2018, 3:25 pm



    Cống đập chặn mặn, gây rối loạn hệ sinh thái và những cái giá phải trả.

     Water, water, every where,
    Nor any drop to drink. 

    Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]     


    Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người

    phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai


    NGÔ THẾ VINH


    Gửi Nhóm Bạn Cửu Long


    Hình 1: Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có 2 triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai; từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh]


    XỨ SỞ CÂY THỐT NỐT VÀ NGƯỜI KHMER HIỀN HOÀ


    Tới An Giang, tới hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn không thể không thấy hàng cây thốt nốt nổi bật trên những cánh đồng lúa xanh. Cây thốt nốt thuộc họ cau, tên khoa học Borassus flabellifer, có nhiều ở các nước Đông Nam Á. Cây thốt nốt sống cả trăm năm dài hơn tuổi thọ một đời người. Thân cây thẳng và cao tới 30 mét. Cây đực không trái, cây cái cho tới 60 trái mỗi cây. Trái thốt nốt có vỏ xanh đen, nhỏ hơn trái dừa bên trong có những múi trắng mềm, ngọt và mát. Hoa cây thốt nốt cho nước ngọt có vị thơm, có thể nấu thành đường, ngon hơn đường mía. Nếu Quảng Ngãi, quê Hương Nghiêu Đề bạn tôi, từng nổi tiếng về đường phổi, đường phèn thì An Giang, vùng Tịnh Biên Tri Tôn nổi tiếng với đường thốt nốt. Chè đậu xanh nấu với đường thốt nốt ngọt dịu và rất thơm ngon. Hình như tất cả mọi thành phần cây thốt nốt đều có công dụng: thân làm cột nhà, lá dùng lợp mái. Trong nền văn hóa cổ Khmer, các Chùa chiền còn lưu giữ được những văn bản viết trên lá cây thốt nốt. Cây thốt nốt cũng được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [Hình 2]



    Hình 2: Hàng cây thốt nốt đứng soi bóng bên hồ nơi khu đền đài Angkor;

    cây thốt nốt được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [tư liệu Ngô Thế Vinh] 


    Khắp xứ Chùa Tháp xuống tới Đồng Bằng Sông Cửu Long, đi đâu cũng chỉ gặp những người dân Khmer hiền hòa, và rồi không thể nào hiểu được những gì đã xảy ra giữa họ và những người Việt trong quá khứ. Chỉ có thể giải thích họ là một đám đông nạn nhân của những khích động thù hận mà động cơ là những mưu đồ chánh trị đen tối.


    Trong y khoa, khi khảo sát não trạng vô thức của đám đông, qua nghiên cứu hành vi/ behavior của loài cá, khoa học gia Đức đã làm một thử nghiệm: thả một con cá bị huỷ não bộ vào một hồ cá, không có gì ngạc nhiên là con cá ấy mất định hướng bơi tán loạn, nhưng điều kỳ lạ là đàn cá lành mạnh thì lại ngoan ngoãn bơi theo con cá mất não ấy. Phải chăng "thử nghiệm hành vi" của nhà khoa học Đức, đã phần nào giải thích hiện tượng cả một dân tộc Đức văn minh đã có một thời kỳ nhất loạt tuân theo một lãnh tụ như Hitler xô đẩy cả thế giới vào lò lửa của cuộc Thế chiến thứ Hai. 





    Hình 3: trên trái, hàng cây thốt nốt huyện Tri Tôn tỉnh An Giang; phải, bà Ngoại ngồi chặt đống trái cây thốt nốt; dưới phải, con gái Ngoại thì đang gỡ những múi thốt nốt trắng mềm để mời khách, đây là quánThốt Nốt Võng cho khách đường xa ghé uống ly nước thốt nốt mát và tạm ngả lưng; từ phải, TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, TS Lê Phát Quới, Th.S Nguyễn Hữu Thiện, KS Phạm Phan Long; trên mặt bàn là hộp đường thỏi thốt nốt. [photo by Ngô Thế Vinh & Phạm Phan Long]


    Hình 4: trái, được ăn những chiếc bắp nóng trên đường đi, phải, vựa dứa thơm ngon nổi tiếng quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, từ trái: TS Dương Văn Ni, Ngô Thế Vinh, TS Lê Phát Quới. [photo by Ngô Thế Vinh, Nguyễn Văn Hưng]


    Hình 5: trái, những giề lục bình phủ kín kinh rạch do nước tù đọng; phải, cảnh khói đồng do nông dân đốt rạ và dùng tro than như phân bón thiên nhiên.


    Hình 6: giữa, cùng bác nông dân với bài học đập lúa đầu tiên trên ĐBSCL, kết quả người viết bị đánh rớt / disqualified ngay, vì đập không hết hạt và lúa thì vương vãi ra tứ tung, học làm nông dân khổ và khó lắm. [photo by Nguyễn Văn Hưng]



    Hình 7: trái, từ ruộng hành xã Vĩnh Hải huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng những thố hành tím được chất thành ngọn lên xe tải để phân phối tới các chợ; phải: TS Lê Anh Tuấn đứng bên túi trữ nước ngọt lấy từ giếng bơm, anh Lê Anh Tuấn cũng cho biết: 100% nước tưới ruộng hành được lấy từ các giếng bơm,  [photo by Ngô Thế Vinh] 


    CÓ MỘT NỀN VĂN HOÁ NƯỚC LỢ 


    Trên đường dọc theo Sông Hậu, xe dừng lại Hộ Phòng là một phường của thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Xuống xe đi bộ lên chiếc cầu xi măng có tên Hộ Phòng 2, bắc qua con kênh lớn Gành Hào [được xây từ năm 2011 do quỹ ODA/ Official Development Assistance của Nhật].


    Bấy lâu, các chuyên gia Bộ Nông nghiệp từ ngoài Bắc vào vẫn có cái nhìn rất giản đơn về hệ sinh thái sông nước Cửu Long: họ chỉ thấy có triều cường và triều kiệt. Rồi đề xuất kế hoạch làm những cống đập chặn triều cường để ngăn mặn giữ ngọt. Từ suy nghĩ giản đơn ấy, họ đã và đang gây ra bao nhiêu hệ luỵ cho hệ sinh thái ĐBSCL như hiện nay.


    Đoàn đứng trên cầu phía hướng ra Biển Đông, nơi có cống đập ngăn mặn. Ngoài mặn trong ngọt. Anh Dương Văn Ni sinh ra và lớn lên từ vùng sông nước Miền Tây, khi nói về nhịp đập của hệ sinh thái ĐBSCL, anh Ni thông thuộc như với đường chỉ tay của chính mình; với một giọng thuần Nam Bộ trầm tĩnh bắt đầu một bài giảng:


    "ĐBSCL chỉ nói riêng phía Biển Đông, không đơn giản chỉ có triều cường và triều kiệt. Hỏi người nông dân thì họ biết rất rõ. Thuỷ triều từ Biển Đông là bán nhật triều, sáng và chiều hai lần trong ngày; hai lần nước lớn tiếp theo hai lần nước ròng, mực nước lên xuống bốn lần trong một ngày. Trong tháng, người nông dân biết chừng nào thì "nước rong" vào ngày rằm, khi nào "nước kém" vào cuối tháng âm lịch. Trong năm, thì họ có mùa "nước nổi" và mùa "nước hạn".


    Từ mấy trăm năm, trải qua bao thế hệ, người nông dân Miền Tây đã quen chung sống với nhịp đập thiên nhiên ấy của những dòng sông: trong ngày, trong tháng, trong năm và đã hình thành một nền "văn minh sông nước." Họ đã quen chung sống với cả ba tình huống: nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Lãnh đạo bộ Nông nghiệp đa số mang theo họ một nền văn hoá từ châu thổ sông Hồng, biết rất ít về hệ sinh thái ĐBSL vốn rất đặc thù. Với đầu óc duy lý giản đơn, với những con số thống kê, nhưng họ có biết đâu rằng chuỗi những con số đó chính là những tín hiệu đã nằm ngay trong nền "văn hoá sông nước" mà người nông dân từ đời này sang đời nọ vẫn đọc được. Người nông dân bấy lâu đã biết nương theo sức mạnh của thiên nhiên để chung sống. Văn hoá sông nước thực ra gồm bốn phần tương tác Sông-Biển-Châu thổ-Con người cùng hoà nhập nhau theo từng nhịp đập.


    Một ví dụ, chỉ riêng chuyện di chuyển ghe thuyền trên sông, người nông dân biết tính trước khi nào thì cho ghe xuôi theo con "nước ròng", khi nào thì ghe ngược theo con "nước lớn", và cũng để thấy cấu trúc của lòng ghe bấy lâu là làm sao dùng sức đẩy tối ưu của dòng chảy.


    Và rồi trong tháng họ biết lúc nào thì cho nước vào ruộng, khi nào thì xả, khi nào thì thả con giống cá tôm... mà không cần tốn nhiều công sức, để phải dùng gầu tát nước hay phải dùng tới máy bơm.


    Chính nhịp đập của "mẹ thiên nhiên / natural pulse" là bạn đồng hành thân thiết bấy lâu của họ. Và nay thì bị phá vỡ và cắt đứt một cách thô bạo.


    Cũng từ bao trăm năm, nông dân ĐBSCL biết rất rõ là sông rạch nối liền với biển, có thuỷ triều lên nên mới có được con nước lớn, và thuỷ triều xuống mới có con nước ròng, và cũng nhờ đó mà sông rạch được làm sạch, có cá tôm và đã hình thành cả một nền văn hóa sông nước.


    Chúng tôi cùng hiểu rằng: với cống đập kia, con sông bị cắt làm hai: chỉ còn một bên ngọt, một bên mặn, mất hẳn một vùng nước lợ / blackish. Bên trong không còn nước lớn, nước ròng mà sông biến thành hồ tù đọng, tích luỹ đủ mọi loại ô nhiễm, và không còn cá tôm. Bên ngoài, hệ sinh thái ven biển cũng bị nghèo đi và nông ngư dân cho biết, từ ngày có cống đập không còn đâu nguồn tôm cá phong phú của cả một vùng nước lợ. Đó là chưa nói tới tình trạng gián đoạn giao thông trên sông.


    Rồi anh Ni đưa ra một ví dụ rất tượng hình: "Cũng giống như khai quật được một kho tàng cổ sử, người không chuyên môn thì chỉ thấy được đó là những mảnh đá mảnh sành, cùng lắm là thấy thêm được mấy nét vẽ ngoằn ngoèo vô nghĩa trên đó, nhưng với con mắt của nhà khảo cổ thì khác, đó là dấu vết và tín hiệu của cả một nền văn minh."


    Và tôi cũng hiểu rằng, bấy lâu với các chuyên gia nông nghiệp từ ngoài Bắc vào, chưa từng chung sống và chết với nền văn minh sông nước ấy, họ đã có những chánh sách can thiệp thô bạo chống lại mẹ thiên nhiên để phải trả giá rất đắt và nạn nhân không ai khác hơn là chính ngót 20 triệu cư dân phải ngày đêm sống với những bất cập ấy như hiện nay.





    Hình 8: trái, Cầu Hộ Phòng II là cây cầu mới trên khúc đường vòng/ detour, (do quỹ ODA / Official Development Assistance của Nhật xây 2011, còn Hộ Phòng I là cây cầu cũ thì nằm trên đường thẳng của Quốc lộ). Đứng trên hướng ra Biển Đông TS Dương Văn Ni đang giảng về "có một nền văn hoá nước lợ"; từ trái: TS Dương văn Ni, KS Phạm Phan Long, TS Lê Anh Tuấn, TS Lê Phát Quới, giữa: cống đập chặn mặn không xa biển trên con kênh Gành Hào, với bên ngọt bên mặn và một mai không còn đâu nét văn hoá của một vùng nước lợ / blackish; phải: cống đập chặn mặn chặt đứt hệ sinh thái biển và sông và cũng làm nghẽn mạch vận chuyển đường sông, kể cả với những chiếc ghe nhỏ đuôi tôm. [photo by Ngô Thế Vinh]  


    CÔNG TRÌNH CỐNG ĐẬP BA LAI: MỘT HỐI TIẾC


    Hai Mươi Năm qua 1997-2017, lãnh đạo Bộ Nông Nghiệp, qua nhiệm kỳ của 3 bộ trưởng:


    1/ Lê Huy Ngọ, nhiệm kỳ 7 năm, 1997-2004

    2/ Cao Đức Phát, nhiệm kỳ 12 năm, 2004-2016

    3/ Nguyễn Xuân Cường, nhiệm kỳ 2016 đương nhiệm


    Họ đến từ miền Bắc đã và đang có những quyết định phải nói là sinh tử với hệ sinh thái ĐBSCL, một vùng thổ nhưỡng phải nói là rất xa lạ với họ.  


    Chỉ thấy đơn giản nơi ĐBSCL có triều cường triều kiệt, coi nước mặn là kẻ thù nên đã có một chiến lược ồ ạt xây những đại công trình mà người ta gọi là Cống Đập Ngăn Mặn, Cống đập Ba Lai là một điển hình.


    Được khởi công ngày 27.02.2000, dự án công trình cống đập Ba Lai chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị kéo sang xã Tân Xuân (Ba Tri). Kinh phí ban đầu lên tới hơn 66 tỷ đồng VN. Con đập dài 544 m gồm 10 cửa với khẩu độ 84 m được vận hành bằng một hệ thống van tự động hai chiều. Quy hoạch trên lý thuyết, thì cống đập Ba Lai có chức năng: ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ cho 115,000 hecta đất trong đó có 88,500 hecta là đất canh tác, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân cư Thành phố Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành; cùng kết hợp với phát triển giao thông thuỷ bộ và cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án. [sic]


    Hai năm sau, từ ngày 30.04.2002 cống đập Ba Lai được đưa vào hoạt động, được vinh danh là một công trình thuỷ lợi lớn nhất của ĐBSCL. Và từ đây, cửa sông Ba Lai, một trong 9 cửa của Cửu Long chính thức bị ngăn lại.



    Hình 9: từ ngày có cống đập Ba Lai, cửa sông Ba Lai nhánh thứ 8 bị chính con người đóng lại. Cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp từ cả trăm năm nay, và hiện giờ Cửu Long Giang nay chỉ còn 7 nhánh: Thất Long. [photo by Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị]


    Tính cho tới nay, cống đập Ba Lai đã vận hành được 16 năm [2002-2018], hiệu quả công trình Cống đập Ba Lai ấy ra sao? Chỉ có những lời ta thán.

    Hàng trăm cống ngăn mặn không đạt mục đích vì còn chằng chịt những cửa sông kinh rạch không có cống ngăn mặn đã tập hậu nước mặn vào bên sau  hệ thống cống đập đã xây.


    Hình 10: Bến Tre nước ngọt khan hiếm, phải dùng cả xe máy kéo để chở nước, có nơi dân phải mua 100,000 đồng / mét khối nước [photo by Bình Đại, Zing VN 20.02.2016]. Bệnh viện lớn nhất tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt. mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt, chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước. [photo by Mậu Trường, TTO 14.03.2016]


    Sông Ba Lai ngừng chảy. Thay vì biến sông Ba Lai thành một hồ nước ngọt thì cư dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô. Hậu quả là tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt, đưa tới tình cảnh bệnh viện lớn nhất Bến Tre mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước, còn người dân thì sống trong tình trạng thiếu nước ngọt kinh niên, phải mua nước ngọt có khi phải trả tới 100,000 đồng VN/ mét khối. [Tuổi Trẻ online 22.02.2016]


    Giải thích của nhà nước về "hiệu quả ngược" của công trình cống đập Ba Lai như hiện nay là: do thiếu vốn để làm tiếp nhiều công trình khác tiếp theo, trong đó có hai hạng mục quan trọng, đó là phải xây thêm cống đập và cả âu thuyền* trên hai con sông Giao Hoà và Chẹt Sậy vẫn tiếp tục đem nước mặn từ sông Cửa Đại đổ vào "hồ nước ngọt Ba Lai".



    *Âu thuyền / canal lock: là một từ tương đối mới, chỉ một công trình chắn ngang sông hoặc kênh, có cửa hai đầu để tăng hoặc giảm mực nước, giúp cho thuyền hay tàu đi qua nơi có mực nước chênh lệch nhiều.   


    Theo phóng viên TTXVN Phan Văn Trí, trích dẫn: "Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh cho biết để thi công hai hạng mục đập và âu thuyền và một số hạng mục khác cần nguồn vốn khoảng 200 triệu USD. Vì vậy, tỉnh đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tranh thủ nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Ông Trọng cũng cho biết tổ chức JICA (Nhật Bản) đã đến Bến Tre khảo sát địa điểm xây dựng đập và âu thuyền. Tuy nhiên, việc khởi công có thể còn phải chờ đến… năm 2020. Dù gì thì hình ảnh những chiếc xe máy cày hay xe bò kéo chở nước đem đổi cho người dân, với giá từ 70,000 đồng đến 100.000 đồng/m3, chắc chắn vẫn còn diễn ra trong những mùa khô cho tới 2020. Điều đáng nói là nước đó được lấy từ những chiếc giếng đào trên giồng cát, chưa qua xử lý…" [2]


    Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng nay chỉ còn có 7 cửa. Nam Thất Nữ Cửu, như hình ảnh một ĐBSCL bị triệt sản. Bởi thế dân gian tỉnh Bến Tre mới có câu:


    Ba Lai là cái cửa mình

    Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ


    Một câu hỏi được đặt ra: với những tác hại do cống đập Ba Lai gây ra, ai - Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hay Bộ Tài Nguyên Môi trường hay chánh phủ trung ương sẽ nhận trách nhiệm với phong cách "đem con bỏ chợ" như hiện nay, phải chờ cho tới 2020 cho đến khi ODA của Nhật chịu rót vốn vào?


    Từ bài học thất bại của đại công trình cống đập Ba Lai, nhiều nhà khoa học và giới hoạt động môi sinh như một "think tank" đã không ngừng lên tiếng cảnh giác rằng: nếu không có một đánh giá môi sinh chiến lược cho toàn ĐBSCL mà chỉ đơn giản nhắm giải quyết tình hình hạn mặn, rồi lập ngay quy hoạch xây dựng xây một loạt hệ thống cống đập chỉ để ngăn mặn nơi các cửa sông lớn là phá vỡ cả một hệ sinh thái và hậu quả sẽ khôn lường.


    Khảo sát của nhóm IUCN / International Union for Conservation of Nature Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên tại VN đưa ra nhận định là do hệ thống cống đập khiến hai bên bờ sông Ba Lai đang khép lại dần.


    TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hận, ĐH Cần Thơ đã dùng một cụm từ rất gợi hình để chỉ hệ thống cống đập Ba Lai khi ông gọi đó là "dòng sông bị cưỡng bức." Sông nay biến thành hồ chứa, ô nhiễm thì tích luỹ nước đổi màu do rong tảo sinh sôi phía trong cống đập. 


    Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về nước ngập/ Wetlands cho rằng hàng năm vào mùa mưa do lượng nước mùa lũ đổ về, toàn thể phù sa trong lượng nước đó sẽ lắng xuống đáy sông Ba Lai - nay trở thành hồ và với thời gian sông Ba Lai sẽ chết hẳn do bị bồi lấp. [1]  


    Khi đưa ra cái nhìn toàn cảnh hiện trạng và tương lai ĐBSCL, các anh trong đoàn đưa ra một cái nhìn tổng quan không mấy lạc quan:  


    Đất bị mất do sạt lở bờ sông bờ biển, trong những năm gần đây, đất bị lún với tốc độ 10 lần nhanh hơn so với nước biển dâng, và đất đai còn lại thì bị vắt kiệt. Sông ngòi ô nhiễm đủ thứ, từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản đổ thẳng vào sông, cũng như lượng lớn phân bón, thuốc trừ sâu từ nông nghiệp do 3 vụ thâm canh.


    Theo một nghiên cứu về lịch sử đất lún do nhà khoa học Minderhoud và một nhóm chuyên gia Hà Lan, Hoa Kỳ và Việt Nam thực hiện công bố năm 2017 trên Environmental Research Letters, độ lún và vận tốc lún tại châu thổ ĐBSCL đã xuống sâu 25 cm và thậm chí đến 50 cm theo biểu đồ KS Phạm Phan Long trích dẫn chú thích và cung cấp sau đây. [Hình 10]


    Trong những thập niên tới, biển dâng được dự đoán với vận tốc 5 cm/năm, như vậy mặt đất thấp sẽ thấp dần dưới mặt biển có thể đến 1 m trong vòng 100 năm nữa. Trước tác động kép do sinh hoạt con người và do biến đổi khí hậu, ĐBSCL sẽ rơi vào tình huống xấu nhất toàn cầu. Một đối sách có tên “ASR, aquifer storage and reuse” đang được Viet Ecology Foundation đề bạt thảo luận là lọc và trữ nước ở những túi rỗng ngầm, vừa ngăn mặn tập kích vào thềm lục địa, vừa có nước ngọt sinh hoạt canh tác và tránh cho mặt đất tiếp tục lún xuống.



    Hình 11: Biểu đồ độ lún và vận tốc đất lún trong 25 năm tại Đồng Bằng

    Sông Cửu Long. [nguồn: Environ.Res.Lett. 12 (2017) với ghi chú của KS Phạm Phan Long, Viet Ecology Foundation]. Hiện nay, rất nhiều giếng tầng nông và bơm bằng tay đều bị nhiễm mặn nhiễm phèn, nước giếng không còn dùng được, và nay người nông dân phải khoan sâu 400-500m để tìm được nguồn nước ngọt, mặt bằng ĐBSCL đang bị sụt lún nhanh chóng vì các tầng nước ngầm đang bị tận cùng khai thác.

      

    Đã thế nhiều sông ngòi, bị kế hoạch cống đập đã biến sông rạch thành hồ tù đọng, tích lũy ô nhiễm. Nước sông ngòi không còn dùng được phải chuyển sang xài toàn nước ngầm nên tầng nước ngầm cũng cạn kiệt nhanh và đất lún.


    Còn có hiện tượng "tỵ nạn môi sinh/ ecological refugees" của người dân ĐBSCL rời bỏ quê hương đi tới vùng đất khác, tha phương cầu thực. Con số gần 2 triệu người đã đi khỏi vùng đất này trong hai thập niên qua thì phải có những lý do như môi trường sống bị suy thoái, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt.


    Thủy điện thượng nguồn từ Vân Nam Trung Quốc rồi Lào làm mất ngót 90% nguồn phù sa, không có gì thay thế; biến đổi khí hậu với nước biển dâng có thể phần nào thích ứng nhưng còn vấn đề phát triển tự huỷ / destructive development do tự mình gây ra đang là một nan đề lớn do chính sách "duy lý và thiếu tầm nhìn chiến lược" đến từ trung ương đã gây nhiều tổn thương cho ĐBSCL, gây trở ngại cho phát triển.


    TỪ CỐNG ĐẬP BA LAI TỚI SÔNG CÁI LỚN - SÔNG CÁI BÉ


    Bài học thất bại của công trình thuỷ lợi Ba Lai vẫn còn đó, vậy mà, nguyên bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát, một người sinh quán Nam Định từ châu thổ Sông Hồng, vẫn bất chấp mọi lời cảnh báo của giới chuyên gia, vẫn kiêu căng tuyên bố sẽ tập trung đầu tư xây dựng các công trình cống đập lớn đến năm 2020, từ hoàn thiện hệ thống cống đập Ba Lai, và xây dựng thêm các hệ thống cống đập Sông Cái Lớn, Sông Cái Bé [SCL-SCB] tỉnh Kiên Giang, được quảng bá như một công trình của Thế kỷ, với ngân khoản lên tới 3,300 tỷ đồng (150 triệu USD) với hậu quả hay thảm hoạ trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL không biết sẽ trầm trọng tới đâu.


    Rõ ràng có những khoảng chống của Dự án Cống đập SCL-SCB và các câu hỏỉ:

    1/ Chỉ nghe nói, bản nghiên cứu đánh giá tác động môi trường [ĐTM/ EIA] về Dự án Cống đập SCL-SCB là do Viện Kỹ Thuật Biển thuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, nhưng không thấy công bố ở đâu hết, với sự không minh bạch / transparency như vậy thì làm sao có được sự góp ý của giới chuyên gia. 

    2/ Dự án SCL-SCB bao giờ khởi công và tình hình tới đâu chỉ diễn ra sau những cánh cửa Bộ NN & CTNT ngoài ra  không có ai được biết tới để có thể theo dõi.

    3/ Và cũng là điều vô cùng ngạc nhiên là với gần 2 triệu người di cư ra khỏi ĐBSCL trong hai chục năm qua, nhưng vẫn chưa hề có cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu về những nguyên nhân ra đi của họ. 




    Hình 12: Sơ đồ dự án hệ thống cống đập chắn mặn trên Sông Cái Lớn-Sông Cái Bé, sẽ tác động trên 1/4 diện tích toàn ĐBSCL và ảnh hưởng tới đời sống hơn một triệu cư dân trong vùng. (6) [nguồn: Ánh Sáng và Cuộc Sống


    Rõ ràng Dự án cống đập Sông SCL-SCB đã thiếu hẳn một đánh giá chiến lược tác động môi trường [ĐTM/ EIA/ Environmental Impact Assessment] toàn diện và khách quan, bị ảnh hưởng bởi quan điểm của chủ đầu tư/ nhóm lợi ích chỉ để nhằm biện minh cho sự cấp thiết của dự án, trong khi mà ai cũng biết là dự án sẽ tác động tới toàn hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn chiếm 1/4 tổng diện tích của ĐBSCL [hơn 1 triệu hecta], ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống sản xuất sinh kế của hàng triệu cư dân trong vùng quy hoạch, trong khi còn bao nhiêu vấn đề kỹ thuật chưa có giải pháp rốt ráo. Và khi đã gây huỷ hoại trên hệ sinh thái thường rất khó đảo nghịch.


    TS Lê Anh Tuấn, Phó Việt trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu ĐH Cần Thơ [Viện DRAGON] nhận định: cắt đứt trao đổi nước giữa sông và biển chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới canh tác sản xuất của nông dân quen sống theo nhịp thuỷ triều, giảm nguồn thuỷ sản bên trên và bên ngoài cống đập, và do nước tù đọng sẽ tích luỹ mọi ô nhiễm.


    Một chuyên gia Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên ĐH Cần Thơ, nhận định về sự khác biệt của hai chế độ thuỷ triều phía Biển Đông và Biển Tây. Phía Biển Đông là bán nhật triều: nước lên xuống ngày 4 lần, trong khi Biển Tây là chế độ nhật triều, nước lên xuống ngày hai lần. Riêng vùng Tây Nam Sông Hậu chế độ thuỷ văn phúc tạp hơn nhiều, chịu ảnh hưởng của cả hai chế độ nhật triều và bán nhật triều khác nhau. Trong khi các cống đập hiện nay chỉ vận hành theo một mô hình thô thiển: đóng cổng đập khi triều cường, mở cổng đập khi triều kiệt. Hệ thống cống đập trên SCL-SCB sẽ gây rối loạn cho chế độ thuỷ văn vùng này, làm "mất lực hút-đẩy" của chế độ thuỷ văn thiên nhiên [sic] nước sẽ tù đọng tích luỹ ô nhiễm từ các chất thải nông ngư nghiệp, kỹ nghệ và cả nước thải không được xử lý đổ xuống từ các khu gia cư.

      

    NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ĐÃ MỘT LẦN NÓI KHÔNG


    TS Lê Phát Quới, người Long An, giảng dạy tại Khoa Tài nguyên & Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM, anh có giọng nói lớn, có nét trực tính của người dân Nam Bộ, anh nói: "Sau công trình cống đập Ba Lai, trung ương có kế hoạch xây thêm hệ thống cống đập trên cửa con sông Vàm Cỏ là kết nối của hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Anh Lê Phát Quới thuật lại: "Trong một cuộc họp với trung ương và cấp lãnh đạo tỉnh cùng với các nhà khoa học - trong đó có thằng Quới, anh tự gọi mình là thằng, cuộc họp có cả ông Sáu Dân tức Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó. Khi tỉnh Long An được hỏi ý kiến, thì lãnh đạo tỉnh đã có câu trả lời: sau khi phái đoàn tỉnh đi thăm cống đập Ba Lai trở về, sau khi tham khảo ý kiến nhân dân, thì toàn thể nhân dân Long An có câu trả lời là không. Lưu ý các anh, là câu trả lời không phải từ tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân mà là toàn dân tỉnh Long An nói không. Nếu nói là tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân, thì trung ương có thể dùng quyền lực đảng hay quyền lực trung ương để áp đặt, nhưng là tiếng nói của toàn thể nhân dân Long An thì khác. Và rồi sau đó, kế hoạch bị gác lại."


    Anh Lê Phát Quới đi tới kết luận: "nếu cứ để thực hiện hệ thống cống đập trên con Sông Vàm Cỏ thì không biết tai họa cho toàn hệ sinh thái tỉnh Long An sẽ khủng khiếp như thế nào." Và anh Quới không dấu được nét hãnh diện về tiếng nói ngăn chặn kịp thời của nhân dân tỉnh hạt mình.



    Hình 13: TS Lê Phát Quới, Khoa Tài nguyên Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM. [photo by Ngô Thế Vinh]


    UỶ HỘI MEKONG VN, VẪN MÃI MỘT ĐỊA CHỈ NGHỊCH LÝ


    Từ sau 1975, đất nước này nói chung trong đó có ĐBSCL đang được điều hành với những "đầu óc nghịch lý".


    Đứng từ trên một chiếc phà đi ngang nhánh sông Trần Đề để qua Cù lao Dung, trong ráng chiều chập choạng của hoàng hôn, tôi qua sang hỏi một anh trong đoàn: "Hỏi thật lòng anh, là hiện nay người dân ĐBSCL có cảm thấy hạnh phúc hơn không so với trước 1975."  Chỉ có một câu trả lời khẳng định, nếu có thì là các gia đình không còn bị ly tán và đất nước không còn chiến tranh.

    Tôi đã không hỏi anh thêm nữa vì thực sự không có được câu trả lời đơn giản. Riêng tôi thì vẫn cứ bị ám ảnh với con số đã có 2 triệu người phải từ bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai. Cách biện minh là với 2 triệu người bỏ đi nhưng cũng có 700 ngàn người mới tới, không phải là một câu trả lời rốt ráo.



    Hình 14: Vẫn một địa chỉ nghịch lý: Uỷ Hội Quốc gia Sông Mekong Việt Nam, vẫn từ bao năm, vẫn toạ ngự tại địa chỉ 23 phố Hàng Tre Hà Nội, nơi châu thổ Sông Hồng cách xa ĐBSCL hơn 1,600 km, thay vì là Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, ĐH Cần Thơ. [tư liệu Ngô Thế Vinh, photo by LN Hà] 


    Từ hơn hai thập niên, người viết đã không ngừng lên tiếng về mối nguy cơ của những con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc rồi tới chuỗi 9 đập thuỷ điện dòng chính của Lào, rồi tới 2 dự án đập của Cambodia: ngoài những hậu quả rối loạn về dòng chảy, mất nước nơi các hồ chứa và nhất là mất nguồn cát nguồn phù sa, dẫn tới nguy cơ của một tiến trình đảo ngược khiến một ĐBSCL đang dần dần tan rã.


    Những mối nguy cơ từ thượng nguồn, gần như không làm gì được. Nhưng quá trình phát triển tự huỷ / destructive development ngay nơi ĐBSCL trong mấy thập niên qua cũng phải kể là những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên sự sống còn của cả một vùng châu thổ.  Có thể kể, từ sau 1975:


    _ Xây đê đắp đập chắn lũ mở rộng khu gia cư để làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.


    _ Xây hệ thống cống đập chắn mặn phá vỡ nhịp đập thiên nhiên của hệ sinh thái ĐBSCL biến sông rạch thành một hệ thống hồ ao tù đọng.


    _ Xây dựng 14 nhà máy nhiệt điện than nơi ĐBSCL gây ô nhiễm đất, nước, không khí trên toàn vùng.


    Phát triển với những bước không bền vững / unsustainable development như trên đã làm tổn thương trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL và các nguồn tài nguyên thì cứ nghèo dần đi.


    Để thay kết luận, người viết gửi tới ông Bộ trưởng NN & PTNT Nguyễn Xuân Cường, người thay thế Bộ trưởng Cao Đức Phát sau 12 năm tại nhiệm, câu trích dẫn và cũng là bài học đầu tiên của một sinh viên vào học Y khoa: Primum Non Nocere / First do no harm / trước hết là không gây hại.Mọi kế hoạch vội vã, thiếu thời gian cho một lượng giá chiến lược ảnh hưởng môi trường [ĐTM] khách quan, với tổn phí hàng ngàn tỉ đồng mà còn gây hại cho toàn hệ sinh thái vốn đã quá mong manh/ fragile của một vùng châu thổ mà trước đây đã từng được đánh giá là phong phú và giàu có nhất trên hành tinh này.


    Qua kinh nghiệm 16 năm vận hành của hệ thống cống đập Ba Lai, để thấy rằng dù tốn hàng bao nhiêu tỷ đồng, cứ với quyết tâm làm đê ngăn mặn nhưng nước sông rạch bên trong vẫn không thể dùng được cho sinh hoạt, những công trình như thế còn khiến nước bên trong bị ô nhiễm nghiêm trọng vì dòng chảy không lưu thông, tù đọng. Xây dựng cống đập Ba Lai đã rất tốn kém, nhưng khi phát hiện sai lầm - nếu có thiện chí sửa sai, thì việc phá bỏ, làm sạch môi trường và chuyển đổi sinh hoạt của cư dân cũng sẽ rất tốn kém và không thể mau chóng và không phải là dễ dàng.


    Tiếp tục biện pháp xây dựng công trình cống đập ngăn mặn rất tốn kém sẽ cắt đứt thô bạo mối liên hệ cân bằng hệ sinh thái sông - biển - đồng bằng, qua công trình cống đập Ba lai đã chứng minh là không tạo được lợi ích và giải quyết được chuyện gì cho cư dân ĐBSCL mà còn đảo lộn điều kiện thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái của cả một vùng châu thổ.


    Như một nhắc nhở và nhấn mạnh, người viết ghi nhận lại nơi đây một đề nghị cụ thể với Thủ Tướng chánh phủ kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc: hãy cho hoãn ngay Dự án xây hệ thống cống đập Sông Cái Lớn - Sông Cái Bé một thời gian/ time frame ít nhất là 5 năm, trích 5% ngân sách 3,300 tỷ dự trù cho dự án để thành lập ngay một nhóm nghiên cứu ĐTM độc lập [có thể bao gồm cả các chuyên gia Hoà Lan, họ đã có kinh nghiệm và có công lớn thực hiện một số chương trình khảo sát cơ bản cho ĐBSCL], và bảo đảm rằng Đánh giá Tác động Môi trường được thực hiện một cách công tâm, thận trọng bởi những người không có liên hệ gì tới chủ đầu tư hay nhóm lợi ích, để sau thời gian 5 năm đó, nhà nước sẽ có được một bản tường trình lượng giá ảnh hưởng môi trường đầy đủ khách quan và minh bạch, với tất cả mọi tình huống pros & cons để từ đó mới có quyết định "nên hay không nên" triển khai dự án được mệnh danh là công trình của Thế Kỷ ấy. Cũng trong bản tường trình ấy, cũng không thể thiếu phần điều tra cơ bản về nguyên nhân nào đã khiến 2 triệu cư dân ĐBSCL phải rời bỏ quê hương ra đi tìm kế sinh nhai. Được như thế thì sẽ phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120 về ĐBSCL [17/11/2017] trong đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.”



    NGÔ THẾ VINH

    ĐBSCL 12.2017 - 02.2018



    Tham Khảo:


    1/ Có còn con sông nước lớn, nước ròng? Lê Quỳnh. Báo Người Đô Thị online Thứ hai, 20/06/2016 http://nguoidothi.net.vn/co-con-con-song-nuoc-lon-nuoc-rong-4042.html


    2/ Thiếu vốn, dự án ngọt hóa sông Ba Lai trở thành ... mặn quá. Phạm Văn Tri, TTXVN 06.08.2016 https://baomoi.com/thieu-von-du-an-ngot-hoa-song-ba-lai-tro-thanh-man-qua/c/20027474.epi


    3/ Chuyên gia đề nghị tạm dừng dự án thuỷ lợi 3,300 tỷ đồng ở Miền Tây. Huỳnh Xây, Dân Việt, 03.06.2017 http://danviet.vn/nha-nong/chuyen-gia-de-nghi-tam-dung-du-an-thuy-loi-3300-ty-dong-o-mien-tay-775724.html


    4/ Phát triển ĐBSCL: Tốn tiền tỷ mà trái quy luật thì trả giá đắt. Nguyễn Hữu Thiện; VietnamNet 27.11.2017 http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/phat-trien-dbscl-ton-tien-ti-ma-trai-quy-luat-thi-tra-gia-dat-413188.html


    5/ Ngăn đập sông Cái Lớn - Cái Bé: ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Phạm Anh; Tiền Phong 02.06.2017 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/ngan-dap-song-cai-lon-cai-be-dbscl-se-bi-anh-huong-khong-nho-1154506.tpo


    6/ Băn khoăn xây cống Cái Lớn – Cái Bé, Sáu Nghệ; Ánh Sáng và Cuộc Sống; 26.06.2017 http://anhsangvacuocsong.vn/ban-khoan-xay-cong-cai-lon-cai/




  • Bàn về qui trình bổ nhiệm và tiêu chuẩn giáo sư đại học

    Posted on: 9 February 2018, 5:07 am





    Hơn 1200 giáo sư, phó giáo sư mới: Vét "chuyển tàu" chót mang số hiệu 174


    Có nhiều ý kiến cho rằng năm 2017 "bão" chức danh Giáo sư và Phó giáo sư, con số thật đáng bất ngờ với hàng nghìn ứng viên được phong hàm. Báo điện tử Infonet đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn - Viện Garvan, Úc về con số hơn 1200 giáo sư và phó giáo sư mới được công nhận.


    Phóng viên: Thưa GS Nguyễn Văn Tuấn, theo công bố mới nhất của Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước năm 2017 có thêm hơn 1200 chức danh giáo sư và phó giáo sư mới. Quan điểm của ông như thế nào?


    NVT: Tôi thấy báo chí cũng đã nhận xét về con số GS/PGS được 'công nhận' năm nay là "đột biến". Quả thật như vậy, số GS/PGS năm nay tăng 75% so với năm 2016 và hơn 2 lần so với năm 2015. Tôi nghĩ số lượng GS/PGS tăng hàng năm thì có thể hiểu được, nhưng tăng ở mức độ trên thì quả là bất thường. Lí do như ông Tổng Thư ký Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước đã nói là "vét chuyến tàu chót mang số hiệu 174." Lí do đó tự nó cũng là một bất bình thường.


    Phóng viên: Từ năm 2019 trở đi, theo dự thảo mới thì để được công nhận chức danh giáo sư thì ứng viên ít nhất 2 bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus … Với quy định này theo ông có làm khó các ứng viên không?


    NVT: Tôi nghĩ những qui định về số bài báo khoa học là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu chỉ có 2 bài báo khoa học thì tôi e rằng quá thấp và quá đơn giản. Xin nói thêm rằng một nghiên cứu sinh ở Úc cũng đã có ít nhất 2 bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ. Trong lần xét giải thưởng Tôn Đức Thắng vừa qua, chúng tôi nhận những hồ sơ của các "Assistant Professor" (tức thấp hơn Phó giáo sư một bậc) mà người nào cũng có hơn 20 công trình nghiên cứu khoa học.


    Qui định 2 bài báo vẫn chưa đủ, bởi vì đó chỉ là lượng; cần phải xem xét đến chất nữa. Vấn đề không phải là bao nhiêu bài báo khoa học, mà là những bài đó được công bố ở đâu, ứng viên đóng vai trò gì trong bài báo, và bài báo có tác động như thế nào đến chuyên ngành. Tất cả những khía cạnh vừa kể không có trong qui định. Do đó, tôi nghĩ qui định mới chẳng làm khó ai cả; trong thực tế qui định đó rất dễ cho nhiều ứng viên.


    Phóng viên: Trong số danh sách các ứng viên được phong hàm đợt này có danh sách ngành y khá dày trong số 85 GS thì có gần 20 người, 1141 PGS thì có 172 người thuộc ngành y. Theo GS Tuấn hiện nay tiêu chuẩn tác giả trong các bài nghiên cứu của ngành y như thế nào, làm sao để tránh bị lạm dụng các tiêu chí?


    NVT: Tôi thấy năm nào con số GS/PGS ngành y đều cao hơn nhiều so với các chuyên ngành khác. Điều này quả thật là đáng ngạc nhiên, bởi vì ở nước ngoài, các ngành kĩ thuật và công nghệ thường có số giáo sư đông hơn ngành y.


    Tôi nghĩ hiện trạng này có thể xuất phát từ qui định. Với những qui định như số bài báo khoa học mà không kèm theo những tiêu chuẩn về phẩm chất và vị trí tác giả, thì ngành y có nhiều công bố hơn các ngành khác. (Cần nói thêm rằng khoảng 90% các công bố quốc tế trong ngành y không phải tác giả trong nước chủ trì hay đứng tên tác giả chính). Do đó, nếu qui định có kèm theo những tiêu chuẩn như phải là tác giả đầu hay tác giả chính và phải chứng minh là chủ trì công trình nghiên cứu thì chắc ngành y sẽ có rất ít ứng viên đạt tiêu chuẩn.


    Phóng viên: Những bất cập trong việc xét duyệt GS, PGS ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học nước nhà như thế nào?


    NVT:  Những bất cập về qui trình và tiêu chuẩn làm cho uy tín khoa học của Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực. Thử tưởng tượng, nếu đối tác nước ngoài đọc lí lịch khoa học của một giáo sư Việt Nam mà chỉ có 2 bài báo khoa học thì họ sẽ rất ngạc nhiên. Nếu con số là 20 hay 30 thì họ có thể thông cảm, vì nước nghèo và khoa học kém phát triển nên tiêu chuẩn như vậy là tạm được. Nhưng dù là nước nghèo, mà một giáo sư chỉ có vài bài báo khoa học thì đó là một điều bất thường. Từ đó, người ta có cái nhìn tiêu cực về khoa học Việt Nam, và cái nhìn này gây ảnh hưởng xấu đến những giáo sư Việt Nam có thực tài và có thành tích công bố quốc tế tốt.


    "Bùng nổ" giáo sư, phó giáo sư vì sao?


    Phóng viên: Hiện nay tại Việt Nam có hai luồng ý kiến nên để hai mô hình đó là do quốc gia phong hàm và phân cho trường. Theo ông, Việt Nam nên chọn mô hình nào?


    NVT:  Tôi thì nghiêng về xu hướng để cho trường đại học phụ trách việc đề bạt và bổ nhiệm chức vụ giáo sư. Vấn đề là quản lí qui trình bổ nhiệm, tiêu chuẩn học thuật, và nhất là thành phần của hội đồng bổ nhiệm. Chúng ta có thể tham khảo cách làm ở nước ngoài. Một đại học có một "hội đồng khoa bảng", hội đồng này bao gồm các thành viên cấp giáo sư trong và ngoài trường, trong nước và quốc tế. Nếu trường không đủ thành viên có tư cách khoa học, thì có thể mời thành viên từ ngoài, và điều này rất bình thường. Hồ sơ của ứng viên được gửi ra ngoài để bình duyệt, và sau khi có bình duyệt, hội đồng chỉ phỏng vấn ứng viên và ra quyết định.


    Nhưng tôi cũng hiểu tại sao vẫn còn tồn tại cách làm "trung ương hóa" như hiện nay. Ở Việt Nam, nhiều khi "nói vậy mà không phải vậy", hay có nhiều tiêu chuẩn và qui trình được đặt ra rất hợp lí, nhưng khi trao về cho trường và địa phương thì xảy ra nhiều vấn đề. Mỗi trường có một lịch sử phát triển và nhu cầu riêng, cho nên tiêu chuẩn cũng khác nhau. Do đó, tôi nghĩ cần phải có quản lí qui trình, nhưng không can thiệp vào nội bộ của trường.


    Phóng viên: Như GS Tuấn có nói đã đến lúc chúng ta giải tán hội đồng chức danh giáo sư nhà nước, và giao việc bổ nhiệm giáo sư về cho trường đại học. Nhưng với một môi trường vốn “sính danh” như ở Việt Nam thì việc giao cho trường có đạt được những GS thật đúng như mình mong muốn không, kinh nghiệm học hỏi cho Việt Nam là gì?


    NVT: Ở các nước như Mĩ và Úc, chức danh giáo sư thường gắn liền với một trường đại học hay một viện nghiên cứu. Do đó, khi nói "giáo sư" người ta phải kèm theo tên trường. Ngay cả ở Úc và Mĩ, giáo sư cũng có nhiều đẳng cấp. Trường danh tiếng có tiêu chuẩn đề bạt và bổ nhiệm cao hơn trường kém danh tiếng hay trường địa phương. Nhưng tôi nghĩ dù là trường nào thì cũng phải làm theo một qui trình chuẩn, và một số tiêu chuẩn tối thiểu để tham khảo.


    Phóng viên: Theo Giáo sư, ông có nhiều năm nghiên cứu ở Úc cũng như tham dự nhiều hội thảo khoa học trên thế giới. Có nơi nào có chức danh PGS không? Theo ông, Việt Nam có nên bỏ chức danh PGS đi không?


    NVT: Tùy theo cách chúng ta dịch thôi. Ở Mĩ có ba bậc giáo sư: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Tuy danh xưng là "Assistant" nhưng họ chẳng phụ tá cho ai cả, mà là một nhà khoa học độc lập. Nếu chức danh "Assistant Secretary" có thể hiểu là "Thứ Trưởng", thì chức danh "Assistant Professor" của Mĩ có thể dịch là "Phó giáo sư". Nhưng vấn đề ở đây là Việt Nam xem chức danh "Phó giáo sư" tương đương với chức danh "Associate Professor" của Mĩ. Theo tôi thì nếu cải cách triệt để, Việt Nam nên có ba bậc giáo sư như Mĩ, vì đó là xu hướng chung trên thế giới.


    Phóng viên: Trong lĩnh vực y khoa, ông có đánh giá như thế nào về các công trình nghiên cứu khoa học và việc ngày càng có nhiều bác sĩ cố phấn đấu lên PGS, GS?


    NVT: Hiện nay, trong số các giáo sư được công nhận thì số giáo sư y khoa chiếm nhiều nhất. Chẳng hạn như trong năm nay, số người được công nhận giáo sư thuộc ngành y chiếm lệ này cao nhất so với các chuyên ngành khác. Điều này có thể giải thích được, vì công bố quốc tế ngành y sinh học chiếm gần 1/4 tổng số công bố quốc tế từ nghiên cứu khoa học Việt Nam.


    Tuy nhiên, có một sự thật khác là đa số những bài báo ngành y từ Việt Nam là do người nước ngoài đứng tên tác giả chính (có lẽ vì họ chủ trì đề tài nghiên cứu) và người Việt chỉ đứng tên tác giả phụ. Theo tôi biết thì hội đồng chưa xem xét đến vị trí và vai trò của tác giả trong các công bố quốc tế. Sự thiếu sót này có thể giúp cho những người chẳng nghiên cứu gì, nhưng do có vai trò quản lí, nên họ có tên trong rất nhiều bài báo khoa học, và do đó họ rất dễ dàng đáp ứng tiêu chuẩn về công bố quốc tế.


    Phóng viên: Tôi lấy ví dụ chỉ riêng trong lĩnh vực y khoa ở Việt Nam, nếu người bệnh có bệnh tới bệnh viện hay các phòng khám khám bệnh họ sẽ phải trả số tiền khám gấp đôi thậm chí gấp 3 cho một lần vào để được bác sĩ chỉ định nếu bác sĩ đó là PGS hoặc GS. Theo ông là tâm lý “sính giáo sư” của người dân có là nguyên nhân nhiều người cố gắng để được phong hàm PGS, GS?


    NVT: Về nguyên lí, đề bạt chức lên chức vụ giáo sư là một hình thước tưởng thưởng và ghi nhận những đóng góp của ứng viên cho khoa học và cho trường đại học. Khi đóng góp của ứng viên đạt được tiêu chuẩn sàn thì họ có quyền yêu cầu được đề bạt. Ở nước ngoài, giáo sư hưởng lương cao hơn giảng viên đại học, nhưng mức độ khác biệt không quá đáng kể. Do đó, lương bổng không phải là một động cơ để người ta phấn đấu trở thành giáo sư.


    Tuy nhiên, ở Việt Nam, tôi nghĩ động cơ để xin công nhận chức danh giáo sư có khi xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ sở. Theo tôi biết thì có qui định trường đại học phải có giáo sư hay phó giáo sư và số tiến sĩ mới có thể mở ngành đào tạo. Ở các bệnh viện thì giáo sư được trả tiền khám cao hơn bác sĩ không có danh xưng giáo sư. Tất cả những yếu tố đó có thể giải thích tại sao ngành y có nhiều người xin chức danh giáo sư so với các ngành khác.


    Nhưng từ đó vấn đề đặt ra là chức danh giáo sư để làm gì. Ở nước ngoài, người ta phân biệt hai nhóm giáo sư, một nhóm tạm gọi là "giáo sư chính thống" và một nhóm gọi là kiêm nhiệm. Giáo sư chính thống có nghĩa là những người được trường đại học bổ nhiệm và trả lương. Giáo sư kiêm nhiệm là những người làm trong kĩ nghệ hay bệnh viện, nhưng có đóng góp trong đào tạo cho trường, nên được bổ nhiệm chức vụ giáo sư, tiêu chuẩn ít khắt khe, nhưng trường không trả lương. Giáo sư kiêm nhiệm phải ghi rõ là "Adjunct Professor" chứ không được ghi "Professor" trước tên mình. Nhìn theo cách đó thì đa số những giáo sư y khoa ở Việt Nam là thuộc hình thức giáo sư kiêm nhiệm.





  • Tiêu chuẩn gì để đánh giá phẩm chất khoa học của giáo sư?

    Posted on: 9 February 2018, 4:58 am



    Chữ quan trọng trong công văn trên là "chất lượng" (thật ra, nên hiểu và viết cho đúng là "phẩm chất", chứ không có 'lượng' ở đây). Làm sao để định nghĩa phẩm chất khoa học của một cá nhân. Qua những trải nghiệm cá nhân, tôi có thể nói rằng những yếu tố hay đặc điểm sau đây được sử dụng để đánh giá phẩm chất khoa học của ứng viên:

    1. Tập san và tầm ảnh hưởng.


    Ở Việt Nam, người ta rất quan tâm đến số lượng bài báo khoa học, nên báo chí nói mãi về người này người kia có bao nhiêu bài, hàm ý nói rằng họ giỏi và xứng đáng. Điều này không hẳn đúng. Số lượng bài báo chỉ thể hiện năng suất và mức độ hoạt động nghiên cứu khoa học; nó không phản ảnh phẩm chất khoa học. Một ứng viên có thể có nhiều bài báo, nhưng điều quan trọng hơn là những bài báo đó công bố trên những tập san nào. Những công trình nghiên cứu làng nhàng chỉ có thể công bố trên những tập san có uy tín thấp và ảnh hưởng thấp. Uy tín và tầm ảnh hưởng của một tập san có thể xem qua "impact factor" (IF); tập san có impact factor cao là một (chỉ "một" thôi) tín hiệu cho thấy đó là công trình có phẩm chất tốt. Chẳng hạn như công trình của Bs Lan và cộng sự trên New England Journal of Medicine (IF 72) là một công trình có phẩm chất rất cao (chứ nếu không thì NEJM không bao giờ công bố).


    Nhưng có bài trên một tập san lừng danh vẫn chưa đủ. (Cái này thì ở Việt Nam hay bị ảnh hưởng bởi một vài ca 'outliers' và có thể đánh giá chưa đúng). Hội đồng thường phải xem xét đến quá trình công bố của ứng viên trong quá khứ xem có bao nhiêu lần có bài trên những tập san nổi tiếng, chứ không phải chỉ 1 hay 2 bài là đủ. Họ phải xem xét đến VAI TRÒ của ứng viên trong bài báo (bởi vì có nhiều ứng viên làm quản lí chỉ là 'ăn theo' chứ chẳng có đóng góp đáng kể). Ở Úc, có nhiều ứng viên có bài trên Science hay Nature mà vẫn chưa đủ để được xét bổ nhiệm chức vụ giáo sư, bởi vì thành tựu đó chưa được xem là 'sustainable'.


    Không có hội đồng nghiêm chỉnh nào mà đọc hết hàng trăm bài báo của ứng viên. Người ta chỉ yêu cầu ứng viên trình bày 5 bài trong 5 năm qua VÀ 5 hay 10 bài trong sự nghiệp để đánh giá. Đó cũng là cách mà ĐH Tôn Đức Thắng đang làm.


    Cần nói thêm rằng đã có khá nhiều tác giả ở Việt Nam công bố bài trên những tập san dỏm (predatory journals) hay tập san phi chính thống. Nếu người ngồi trong hội đồng xét duyệt hồ sơ giáo sư mà không có kinh nghiệm công bố khoa học thì làm sao có thể biết tập san nào là dỏm và tập san nào là thật? Nếu đánh giá sai thì sẽ gây tác hại đến ứng viên và khoa học Việt Nam.


    2. Citations (số trích dẫn).


    Một tín hiệu quan trọng khác là tần số trích dẫn. Một bài báo có thể công bố trên tập san có IF thấp nhưng có trích dẫn cao thì vẫn là một công trình có phẩm chất cao. Do đó, các hội đồng bổ nhiệm giáo sư thuộc các đại học tiên tiến chẳng mấy quan tâm đến số bài báo, mà họ RẤT quan tâm đến số trích dẫn. Ngay cả các nhóm xếp hạng đại học, họ cũng chỉ quan tâm đến số trích dẫn, chứ không phải số bài báo. Tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng, chỉ số trích dẫn là một yếu tố gần như quyết định để vượt qua vòng đầu trong xét duyệt bổ nhiệm chức vụ giáo sư.


    Dĩ nhiên, số trích dẫn cũng có vấn đề của nó. Thứ nhất, số trích dẫn phụ thuộc vào ngành nghiên cứu (ngành khoa học xã hội thường có trích dẫn thấp hơn y khoa chẳng hạn); do đó, số trích dẫn phải được xem xét trong mỗi ngành bằng cách dùng chỉ số RCI (relative citation index). Thứ hai, có bài báo (số ít) sai về phương pháp nên người ta trích dẫn để cảnh báo, và trong trường hợp này người xét duyệt phải là người trong ngành để biết. Người ngoài ngành thì .. chịu thua. Thứ ba, chỉ số trích dẫn có khi là … tự trích dẫn. Ở Việt Nam, có nhiều người có xu hướng tự trích dẫn bài của mình và qua đó nâng cao số trích dẫn; điều này đòi hỏi người xét duyệt phải am hiểu và có phương tiện để phân tích trích dẫn cho chính xác.


    3. Chỉ số H (còn gọi là H index).


    Đây là một chỉ số rất quan trọng của một nhà khoa học. Chỉ số H phản ảnh tầm ảnh hưởng của một nhà khoa học trong chuyên ngành, và nó được tính từ số trích dẫn và số bài báo khoa học. Do đó, có thể nói rằng chỉ số H là một dung hoà giữa lượng và phẩm. Theo tác giả của chỉ số H, một nhà khoa học với H = 20 sau 20 năm làm khoa học có thể xem là một nhà khoa học thành công (successful); chỉ số H = 40 sau 20 năm làm khoa học được xem là xuất sắc (outstanding) thường hay thấy ở các đại học hàng đầu hay viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế; chỉ số H = 60 sau 20 năm làm nghiên cứu được xem là thật sự cá biệt (truly unique). Tác giả đề nghị rằng người có chỉ số H khoảng 12 có thể xem tương đương với giảng viên (lecturer hay senior lecturer), và người có H khoảng 18 trở lên có thể xem tương đương với đẳng cấp giáo sư.


    Nhưng chỉ số H tuỳ thuộc vào ngành (vì nó được tính từ số trích dẫn). Do đó, để đánh giá đúng hơn, chỉ số H cần phải được chuẩn hoá, bằng cách lấy ngành vật lí làm chuẩn. Một lần nữa, phải là người am hiểu về trắc lượng khoa học VÀ am hiểu nghiên cứu khoa học mới có thể đánh giá đúng chỉ số H.


    4. Societal impact (tác động xã hội).


    Các chỉ số vừa kể chỉ phản ảnh tầm ảnh hưởng trong khoa học; cái mà chúng ta cần phải xem xét đến là tầm ảnh hưởng đến xã hội, đến thực hành. Do đó, ngoài những chỉ số định lượng, hội đồng còn phải xem xét ứng viên đã có những nghiên cứu nào được chuyển giao cho xã hội hay cho chuyên ngành. Chẳng hạn như một nghiên cứu dẫn đến thay đổi chẩn đoán loãng xương thì đó được xem là tác động chuyên ngành, hay một nghiên cứu làm thay đổi chính sách y tế thì đó là tác động xã hội.


    5. Peer recognition (công nhận của đồng nghiệp).


    Một tiêu chuẩn khác để đánh giá phẩm chất khoa học của một cá nhân là sự công nhận từ đồng nghiệp. Những hình thức công nhận thường là:

    ·       giải thưởng trong chuyên ngành;

    ·       'fellowship' của các hội hay tổ chức khoa học danh giá (không phải fellowship cho bác sĩ hay postdoc!)

    ·       được mời giảng plenary trong các hội nghị quốc tế (không phải hội nghị ở Việt Nam);

    ·       được mời làm chair các phiên họp trong các hội nghị quốc tế;

    ·       thành viên trong ban biên tập các tập san chính thống;

    ·       ngồi trong các hội đồng xét duyệt hồ sơ giáo sư của các trường top 100.


    Chú ý những chức danh như "visiting professor" hay "honorary professor" cho dù của đại học danh giá nào cũng chẳng có giá trị để xét duyệt, bởi vì đó không phải là hình thức recognition. Ở Việt Nam, người ta vẫn bị lầm về chức danh này.


    6. Thu hút nghiên cứu sinh và postdoc.


    Một tín hiệu quan trọng khác để đánh giá phẩm chất khoa học của một giáo sư là đào tạo. Hội đồng thường xem xét đến số nghiên cứu sinh mà ứng viên đã đào tạo, và quan trọng hơn là họ đang làm gì, ở đâu (có phải ở những trường viện nổi tiếng?) Số lượng postdoc đến "đầu quân" để làm việc cũng là một tín hiệu về phẩm chất và tầm ảnh hưởng. Rất hiếm có trường nào (nước ngoài) đề bạt một người lên chức danh associate professor hay professor mà ứng viên đó chưa đào tạo được một tiến sĩ nào.


    7. Tài trợ cho khoa học.


    Hội đồng xét duyệt cũng rất chú ý đến số tiền và số dự án được tài trợ từ những tổ chức khoa học có uy tín (ví dụ như ARC và NHMRC của Úc, hay NSF và NIH của Mĩ). Được tài trợ là một tín hiệu "được công nhận" và phẩm chất khoa học. Người có nghiên cứu tốt thì mới có khả năng thu hút tài trợ; và khi đã thu hút tài trợ họ phải có công bố khoa học tốt mới có khả năng thu hút tiếp. Do đó, tín hiệu về tài trợ khoa học là quan trọng để đánh giá phẩm chất khoa học của một cá nhân.


    ***


    Trên đây chỉ là vài 'attributes' mà các đại học phương Tây dùng để đánh giá phẩm chất khoa học của một ứng viên. Đã là phẩm chất thì không có chuyện 'cân đo đong đếm'. Có những tiêu chuẩn không thể định lượng được, bởi vì không có chỉ số nào có thể phản ảnh đầy đủ. Tất cả phải được đặt trong bối cảnh, và thảo luận trực tiếp trong hội đồng (có khi thảo luận với ứng viên trong buổi phỏng vấn).


    Tất cả các attributes trên đòi hỏi người ngồi trong hội đồng xét duyệt phải am hiểu qui trình nghiên cứu khoa học và công bố khoa học. Lí do là vì họ là người trong cuộc và có trải nghiệm, nên họ biết đánh giá tầm quan trọng và các 'luật chơi'. Những postdoc hay những giáo sư chưa có ngồi trong các hội đồng biên tập tập san thì không thể nào hiểu biết được 'luật chơi' khoa học. Làm sao một người mới 5-10 năm sau tiến sĩ và chưa bao giờ ngồi trong các hội đồng academic có thể biết hết các khía cạnh mà các đại học phương Tây quan tâm? Những người chưa bao giờ điều hành labo nghiên cứu (hay chỉ làm nghiên cứu một mình) thì không thể nào biết hết được qui trình nghiên cứu khoa học thực nghiệm để đánh giá đúng. Thật là sai lầm khi có giáo sư so sánh rằng giáo sư đại học "cũng như... thợ bậc 7"!


    Thật là đáng báo động khi đọc những nhận xét tiêu cực về cái hội đồng chức danh hiện nay. Chẳng hạn như Gs Nguyễn Đức Dân nói rằng "Đã từng có hiện tượng những người xứng đáng nhưng thiếu điều kiện cần là tiềm lực tài chính nên trượt là đương nhiên. Đây là tệ nạn của xã hội vì vậy rất cần sự công tâm của hội đồng, những người cầm cần nảy mực" (2). Đó là tín hiệu tham nhũng trong khoa bảng rồi.

     
    Theo tôi thì không nên yêu cầu ông bộ trưởng làm cái việc "rà soát" này. Lí do là ông cũng mới được công nhận chức danh 'giáo sư', và ông cũng không có trực tiếp ngồi phỏng vấn ứng viên. Nếu giao cho ông "rà soát" thì chúng ta có thể kì vọng rằng báo cáo của ông cho Thủ tướng sẽ là 'đúng qui trình', 'chất lượng tốt hơn năm ngoái', và cuối cùng thì sẽ chẳng có gì thay đổi. Sẽ y như cũ – tôi đoán như thế.


    Tôi nghĩ cần phải có một uỷ ban độc lập rà soát lại qui trình và tiêu chuẩn 'công nhận' chức danh giáo sư. Uỷ ban này phải có thành viên từ trong nước và nước ngoài. Những thành viên này phải là cấp full professor trở lên, nhưng phải là professor có hạng (chứ không phải loại làng nhàng); họ phải là những người thực sự đã từng ngồi trong các hội đồng bổ nhiệm giáo sư, những người am hiểu qui trình và tiêu chuẩn ở nước ngoài, và am hiểu tình hình ở Việt Nam. Chỉ có một hội đồng độc lập thì may ra mới có thể cải cách qui trình và tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo sư.

    ===



  • Ngô Thế Vinh viết Vòng Đai Xanh: Giữa Núi Rừng Bất An

    Posted on: 9 February 2018, 4:52 am



    Ngô Thế Vinh viết Vòng Đai Xanh: Giữa Núi Rừng Bất An

    PHAN TẤN HẢI


    Nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh bằng tấm lòng ưu tư với dân tộc. Trên các trang giấy, chúng ta đọc được nỗi lo của ông bên cạnh những âm vang cồng chiêng của các sắc dân Thượng, xen lẫn gần xa là tiếng súng giao chiến giữa AK-47 và M-16.


    Tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, mẫu bìa Nghiêu Đề, Nxb Thái Độ Saigon 1971, Nxb Văn Học Hoa Kỳ tái bản 2017


    Nơi đó, hiện lên trong các dòng chữ cũng là nỗi lo của giới trí thức Sài Gòn (điển hình với nhân vật chính là họa sĩ tên Triết, xưng tôi) khi nhìn thấy 60 trại lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (LLĐB Hoa Kỳ) trên vùng biên giới cao nguyên Việt Nam có thể tương lai sẽ trở thành một cõi quốc gia tân lập của người Thượng, một đất nước mới manh nha cho các sắc dân thiểu số vùng cao có tên gợi ý là Đông Sơn và viễn ảnh một cuộc chiến mới sẽ bùng nổ giữa dân tộc Kinh và các sắc tộc Thượng – nơi đó, ngòi nổ sẽ bị kích hỏa, hoặc là do chính người Mỹ hay do chính Cộng Sản Bắc Việt gây ra, hay do cả hai cùng bật lên.

    Trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, độc giả có thể thấy phần hư cấu gắn liền với sự thực lịch sử. Nghĩa là, có thể đọc như một cuốn sách biên khảo về Cuộc Nội Chiến Quốc-Cộng trên vùng cao nguyên, nơi đó phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được lính LLĐB Hoa Kỳ hỗ trợ, và nhiều khi phía Mỹ nắm phần chủ lực khi trực tiếp huấn luyện dân quân người Thượng.

    Chúng ta cũng có thể đoán rằng nhà sư Pháp Viên có lẽ là Thầy Thích Trí Quang (?), và tương tự, có thể đoán nhà sư Giác Nghiệp ở Phương Bối Am là một vị nổi tiếng khác. Một nhân vật gay cấn như điện ảnh còn là vị Mục sư truyền giáo (cũng là bác sĩ) Denman, người bị phía CSVN nghi ngờ là bàn tay CIA kích động tư tưởng người Thượng ly khai để lập quốc. Trong truyện, có lẽ tác giả Ngô Thế Vinh hiện ra như một tổng hợp của nhân vật xưng tôi (tức họa sĩ Triết, cũng là phóng viên điều tra về cuộc chiến ở cao nguyên VN) và một nhà báo tài tử sinh viên Đại Học Y Khoa và rồi trở thành Y Sĩ Trưởng một đơn vị LLĐB. Ông Giáo sư Hoàng Thái Trung trong truyện hẳn là một vị giáo sư tên Trung – cũng nên ghi nhận rằng thời cuối thập niên 1960s, có 2 vị giáo sư tên Trung dạy ở một số đại học Sài Gòn, đều yêu nước nồng nhiệt nhưng lại cũng thiên tả mỗi người một kiểu riêng… Có thể GS Hoàng Thái Trung là ám chỉ một vị, hay tổng hợp từ hai giáo sư đó, hay chỉ hư cấu thêm từ một vị.  Nghĩa là, đối với độc giả từng sống dưới chế độ VNCH trong thời 1960s, 1970s, không khí chính trị của Vòng Đai Xanh hiện lên rất quen thuộc. Lãng đãng, mơ hồ, như thật, như hư cấu…

    Có hai cách để độc giả tiếp cận cuốn Vòng Đai Xanh. Hoặc đọc từ trang đầu tới trang cuối. Hoặc đọc các bài giới thiệu phía sau trước, rồi mới đọc truyện sau. Đối với nhiều độc giả, có lẽ nên đọc phần sau trước, để thấy bối cảnh truyện này ra đời, dư luận và ảnh hưởng.

    Một điểm cực kỳ quan trọng trong truyện là hiện tượng rất nhiều người Thượng căm thù người Kinh. Người Tù Trưởng Rhadé qua lời kể của Mục sư Denman hiện ra như sau:

     “Sáng nay tôi tới thăm một buôn Rhadé cách đây chừng tám cây số, tình cờ tôi phải chứng kiến một cuộc mua bán giằng co giữa một người Mỹ và viên tù trưởng. Viên Đại úy LLĐB thì nài nỉ mua cho được ít thớt voi để vận tải tiếp tế cho mấy trại tân lập trong rừng rú, thương lượng giá cả mãi cũng chẳng được, tức mình viên Đại úy phải hằn học hét lên: - Sao ông không chịu giúp chúng tôi diệt hết bọn cộng sản, thì đằng nào tụi nó cũng là người Việt mà ông thì muốn giết bọn họ có phải vậy không? ... Và kết quả thật kỳ lạ không ngờ, các anh có biết sao không, chỉ với một giá rẻ mạt, viên Đại úy có ngay số thớt voi cần thiết.” (Vòng Đai Xanh, trang 25)

    Tại sao người Thượng không ưa người Kinh, dù là người Kinh VNCH hay người Kinh CSVN?

    Mục sư bác sĩ Denman giải thích:

    “Theo tôi trên thực tế vẫn có mối cừu hận thường xuyên giữa đám dân miền núi và số người Việt ở đồng bằng, tất cả bắt nguồn từ một mặc cảm kỳ thị và khinh bỉ; mối tương quan Kinh Thượng hết sức suy đốn do bởi những đối xử tệ hại của đám người Kinh với một thiểu số mà họ khinh miệt quen gọi là Mọi. Thực sự cũng có những người Thượng học thức, họ vẫn chẳng được tham dự chánh phủ, họ không được hưởng thêm một quyền lợi gì khi làm một công dân Việt Nam. Đôi lúc họ lại bị ném lên xe như những con vật, chở về thành phố để đón rước một số ông lớn tới thăm họ. Mỗi lần như vậy là họ phải giết trâu ăn thề làm lễ rửa chân đeo vòng để tỏ sự trung thành và tình thân hữu đối với quan khách. Sau đó họ lại bị ném trả vào rừng núi, tiếp tục cuộc sống đói khát thiếu thốn…

    …Theo lịch sử truyền kỳ thì cả miền Trung và cao nguyên xưa kia là của người Thượng với kinh đô ở gần bờ biển phía đông, có lẽ là tỉnh Nha Trang hiện giờ. Những người già cả còn sống sót cũng kể lại rằng quê hương ông cha họ trước kia cũng ở phía mặt trời mọc, cho đến vị vua cuối cùng của họ vì say mê cưới một nàng công chúa người Việt ở phương Bắc, và chính nàng công chúa này đã âm mưu hãm hại nhà vua. Kể từ đấy họ hoàn toàn bơ vơ không ai hướng dẫn và bị người Kinh tàn ác xua đuổi họ vào mãi tận rừng sâu sống khổ cực cho đến ngày nay.” (trang 25, 26)

    Nơi phần Phụ Lục, trong bài “Từ Vòng Đai Xanh 1970 tới Người Thượng Đôi Bờ 2017,” nhà văn Ngô Thế Vinh giải thích cội nguồn căm thù đó:

    Quy chế Hoàng Triều Cương Thổ riêng biệt dành cho người Thượng có từ thời vua Bảo Đại, đã bị ông Diệm hủy bỏ (từ tháng 3/1955). Có nghĩa là không còn chính sách đãi ngộ và tôn trọng quyền lợi đặc biệt của những người thiểu số. Với chính sách Dinh điền, hàng chục ngàn người dân công giáo di cư từ miền Bắc đã được đưa lên Cao nguyên định cư, xâm phạm cả những vùng đất đai màu mỡ đã từng là sở hữu của người Thượng qua nhiều thế hệ. Cộng thêm với vô số những lỗi lầm khác của chánh quyền thời bấy giờ, như ra lệnh đóng các tòa án phong tục Thượng, ngăn cấm các thổ ngữ và hạn chế số người Thượng có khả năng và có học tham gia vào các cơ cấu hành chánh. Thái độ bất mãn và không hợp tác của người Thượng và cả chống đối nữa là điều rất dễ hiểu.”(trang 220-221)

    Tuy nhiên, trong truyện cho thấy, người Thượng phân biệt minh bạch người Kinh VNCH và người Kinh CSVN… và người Cộng sản được người Thượng so sánh như cọp dữ.

    Trong truyện, tác giả kể rằng:

    "...có hơn sáu trăm đồng bào Thượng ở Dakto bị Việt cộng cưỡng bách đi dân công và sắp bị lùa qua bên kia biên giới chậm nhất là trong vòng ba ngày..." (trang 58)

    Và một người Thượng trốn được, băng rừng tới xin quân lực VNCH tới cứu, trích:

    "Khi được hỏi về cảm tình của dân chúng đối với cộng sản, gã bảo:

    -Nói đến Việt cộng là chúng tôi hết hồn vía, dân làng vẫn thường gọi chúng là chim Dụng tức là con dơi, còn nói về tàn bạo thì chúng tôi sợ họ như cọp dữ. Họ bắt đồng bào chúng tôi đi dân công tải đạn, chúng lại còn thâu thuế cướp bóc gạo và gia súc của dân làng. Nếu chúng tôi có ý định bỏ đi thì họ dọa bắn giết cả làng, không ai có thể đi xa khỏi vùng quá mấy cây số." (trang 58)

    Nghĩa là, dưới mắt đa số dân Thượng, chính phủ VNCH vẫn có chính nghĩa  hơn xa so với quân CSVN.

    Giữa khói lửa ngút trời như thế, hình ảnh Nguyện hiện ra trong truyện rất mực dịu dàng, rất mực lãng mạn. Nhân vật nữ trong truyện viết thời cuối thập niên (Ngô Thế Vinh viết xong là 1969) lại có lối sống rất mực tha thiết nữ quyền.

    Nhân vật tôi (họa sĩ Triết) yêu thương cô Nguyện, một nữ tùy viên văn hóa tại Bộ Ngoại Giao VNCH, và từng nghĩ là sẽ cưới cô.

    Trong khi đó, Nguyện quý trọng tài năng họa sĩ Triết:

    "...Riêng bức Mèo Đen Trên Thảm Hồng do một người đàn bà tên Như Nguyện hỏi mua..."(trang 21)

    Nguyện rất mực lãng mạn, dưới ngòi bút Ngô Thế Vinh:

    "...Tôi nghĩ tới Nguyện, dòng sông Hương và khung cảnh sống của những ngày sắp tới. Người đàn bà trụy lạc nhưng không thể đồng hóa với người khác; giữa nàng và đời sống vẫn có một bức tường ngăn cách. Tôi cô đơn khi xa nàng nhưng đồng thời sự gần gũi cuồng nhiệt của dục vọng chính là những phút run rẩy hấp hối của hạnh phúc. Sự cô đơn thật khủng khiếp khi thân thể bị lạm dụng cho mục đích khám phá cảm giác. Tôi hoàn toàn mất Nguyện ở những giây phút giẫy giụa đó."(trang 35-36)

    Có lúc chàng nhớ Nguyện rất mực thiết tha, và nghĩ tới rời bỏ cao nguyên để cùng nàng về xứ Huế:

    "...tôi chợt nghĩ và nhớ tới Nguyện tha thiết. Phải chi Davis là nàng, tôi sẽ vui sướng để nhận lời mời của mấy vị chủ làng buổi tối. Nguyện cũng sẽ tập uống rượu cần, tôi sẽ chỉ dẫn cho nàng cách nhận một ống triêng bằng tay phải, bởi vì tôi nhớ Nguyện có thói quen dùng bàn tay trái mà người Thượng thì lại không mấy quý bàn tay trái, xử dụng nó được coi như dấu hiệu khiêu khích và khinh bỉ. Cái không biết và vô tình của nàng có thể làm suy giảm mối giao hảo thân hữu giữa chủ và khách. Nhưng tôi hiểu rằng Nguyện không thể nào chọn quê hương là nơi đây và để có được tình yêu tôi và Nguyện, một trong hai người phải hy sinh cái thế giới mộng tưởng của mình. Và dẫu sao, tôi cũng đã có một quyết định dứt khoát bỏ nghề báo và ra Huế."(trang 47-48)

    Trong khi Nguyện có sức lôi cuốn chàng như một loài chim lạ, nàng vẫn gặp rất nhiều tai tiếng:

    "....Tôi cũng gặp Như Nguyện, người đàn bà mua tranh tôi trong vai trò tùy viên văn hóa của sứ quán và tôi cũng không thể nghĩ rằng sẽ có những ràng buộc định mệnh giữa tôi và nàng sau này. Thực sự cho đến bây giờ tôi không biết gì hơn về người đàn bà ngoài cái hiện tại của một cuộc sống phóng thả và rất nhiều tai tiếng. Nguyện đối với tôi có một sức hấp dẫn kỳ lạ của một loài chim bay rất cao để có một tiếng hót hay. Có lần từ Tokyo, Nguyện viết thư cho tôi, thư khá dài không đề cập tới một chuyện gì rõ rệt nhưng chứng tỏ tâm hồn nàng đang có những dao động. Nguyện bảo, nàng như một con chim nhỏ đi trốn tuyết và rất cô đơn. Phải chi Nguyện được anh giam hãm như anh đã từng giam hãm con mèo đen trên cái ấm áp của một thảm hồng." (trang 53)

    Đó là một mối tình đẹp, hiện ra cực kỳ thơ mộng trong một không khí chiến tranh gay gắt ở cao nguyên... Tất cả hiển lộ qua bút pháp tiểu thuyết của Ngô Thế Vinh với hơi văn trầm tĩnh, từ tốn,  thoảng hương rượu cần miền núi và ngây ngất hương tình Vỹ Dạ.

     Phần Kết Từ do Thế Uyên viết năm 1970, giải thích về hoàn cảnh truyện Vòng Đai Xanh ra đời, gợi ý về các Trung đoàn nông tác VNCH xây dựng mô hình Kibbutzim kiểu người Do Thái có thể giúp người Thượng sống đời định cư và chống Cộng. Nơi đó, tuổi trẻ Kinh Thượng một nhà sẽ gìn giữ núi rừng cao nguyên, đẩy lùi làn sóng Phương Bắc.

    Trong phần Phụ Lục, bài “Bách Khoa Đàm Thoại Với Ngô Thế Vinh: Từ Vòng Đai Xanh đến Mặt Trận ở Sài Gòn” sẽ giúp độc giả hiểu về tình hình, vì sao Ngô Thế Vinh với Vòng Đai Xanh được giải thưởng bộ môn Văn trong Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971 trước Tết, thì sau Tết lại nhận trát tòa gọi ra tòa về bài “Mặt Trận ở Sài Gòn”…

    Trong Phụ Lục còn có thư của học giả Hoàng Xuân   Hãn nêu về vấn đề Kinh-Thượng…

    Nhưng nói đầy đủ chi tiết, nói lên nan đề nhức nhối Kinh-Thượng là nhà văn Nhật Tiến qua bài viết năm 2002 “Mở Lại Cuốn Vòng Đai Xanh của Nhà Văn Ngô Thế Vinh” (trang 245-253) mô tả số phận đau thương của người Thượng và nhu cầu giải quyết tận gốc cho xong vết thương của dân tộc để chung sức ngăn cản Trung Quốc ở cả Biển Đông và phía Đông.

    Nguyễn Quốc Trụ có bài viết “Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, Ngô Thế Vinh, Và Tôi” (trang 255-258) kể kỷ niệm thời viết Ngô Thế Vinh trong ký túc xá sinh viên.

    Phần Phụ Lục cũng có trích một số điểm sách đối với ấn bản tiếng Anh (The Green Belt, NXB Ivy House, 2004)) của Vòng Đai Xanh từ  GS Trần Ngọc Ninh, sử gia Gerald C. Hickey, nhà nghiên cứu sắc tộc học Oscar Salemink, nhà hoạt động nhân quyền José Quiroga, GS Nguyễn Văn Tuấn, các nhà văn Phan Nhật Nam, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Quỳnh, Mặc Đỗ, Nguyễn Sao Mai, Ánh Nguyệt, Hoàng Mai Đạt.

    Tiểu sử  tác giả sơ lược như sau.

    Ngô Thế Vinh tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, nguyên tổng thư ký rồi chủ bút báo sinh viên Tình Thương truờng Y khoa Sài Gòn từ 1963 tới khi báo đình bản 1967. Nguyên y sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Letterman General Hospital San Francisco. Trở về Việt Nam, làm việc tại trường Quân Y.

    Sau 1975, tù ba năm qua các trại cải tạo Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… Ra trại, về Sài Gòn, một thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và trường Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn.

    Tới Mỹ tám năm sau 1983, mất thêm 5 năm để trở lại ngành y: thời gian đầu làm volunteer tại các bệnh viện, rồi clinical fellow Đại học USC trước khi trở lại làm bác sĩ nội trú rồi thường trú các bệnh Đại học SUNY Downstate Brooklyn New York. Tốt nghiệp ngành Nội khoa American Board of Internal Medicine và về làm việc tại một bệnh viện miền nam California.

    Tác phẩm Vòng Đai Xanh ấn bản Việt ngữ trải qua nhiều lần in: NXB Thái Độ năm 1970, NXB Văn Nghệ 1987, và bây giờ do Văn Học Press ấn hành năm 2018.

    NXB Văn Học Press do nhà thơ Trịnh Y Thư thực hiện, với giải thích:

    “-- Mô hình thực hiện xuất bản và phát hành: Amazon…

    -- Xuất bản và tái bản những tác phẩm thơ, văn, dịch thuật, biên khảo (văn học, lịch sử, chính trị…) giá trị của các tác giả khắp nơi trong cộng đồng người Việt tự do dưới dạng sách in hoặc eBook hoặc cả hai....

    -- Cộng tác với ban chủ biên các trang mạng văn chương để thực hiện những tuyển tập thơ văn hoặc biên khảo do các chủ biên tuyển chọn từ diễn đàn của mình.

    -- Thực hiện những tuyển tập thơ, văn hoặc biên khảo lấy ra từ các số VHNT và Văn Học cũ từ số đầu tiên xuất bản năm 1978 cho đến khi tờ tạp chí đình bản."

    Các quan tâm về tác phẩm, có thể liên lạc ở: trinhythu2000@yahoo.com


    PHAN TẤN HẢI

    Việt Báo 08.02.2018                                                       
    https://vietbao.com/p112a277368/ngo-the-vinh-viet-vong-dai-xanh-giua-nui-rung-bat-an-va-nhan-sac



  • Giải thưởng TDTU Prize 2017

    Posted on: 2 February 2018, 5:02 am




    Giải thưởng Thành tựu trọn đời (Lifetime Achievement): Gs Edward McBean và Gs Nguyễn Thời Trung (chia xẻ giải).

    Gs Edward McBean (sinh năm 1945, ĐH Guelph, Canada). Chuyên gia về nước. Tốt nghiệp từ ĐH British Columbia và MIT. Công bố hơn 245 công trình khoa học với hàng ngàn trích dẫn. Những nghiên cứu của ông đã giúp cho các quốc gia đang phát triển như India và Cambodia và China trong việc đem lại nguồn nước sạch cho người dân. Ông đã nhận nhiều giải thưởng quốc tế (China, India, Japan, Mĩ).


    Gs Nguyễn Thời Trung (sinh năm 1976, TDTU). Chuyên ngành khoa học tính toán. Tốt nghiệp từ ĐHQG Singapore. Đã công bố hơn 100 công trình nghiên cứu với hơn 4000 trích dẫn (chỉ số H 38), minh chứng cho tầm ảnh hưởng trong chuyên ngành. Gs Trung vừa là nhà khoa học nhưng cũng là ... triết học (vì anh có bằng cử nhân triết năm 2015), và là trường hợp tiêu biểu sống và làm việc vì khoa học. Gs Trung cũng là một minh chứng rằng khoa học Việt Nam có thể đạt được những thành tựu rất tốt trong điều kiện khó khăn. Mới được đề bạt Research Full Professor of TDTU năm 2017.


    Giải thưởng “Rising Star”: Ts Stephanie Kwai-Yee Ma (sinh năm 1978) ĐH Hong Kong. Tốt nghiệp từ ĐH British Columbia và Hong Kong, và có thể nói là lớn lên ở Canada. Chị ấy chuyên nghiên cứu ung thư gan với nhiều khám phá quan trọng công bố trên các tập san y khoa lừng danh. Đã công bố gần 50 công trình nghiên cứu, với hơn 3000 trích dẫn. Những phát hiện của chị sẽ làm nền tảng cho việc phát triển thuốc cho điều trị ung thư gan, và cũng giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về ung thư gan ở người châu Á. Hiện nay Ts Ma là Assistant Professor của ĐH Hong Kong, một trong những đại học hàng đầu thế giới. Tất cả các external reviewers và tất cả thành viên trong hội đồng chấm giải đều “ấn tương” với sự thành công của Stephanie.


    Giải thưởng “Women in Science”: Ts Leo Choe Peng (sinh năm 1979), ĐH Sains Malaysia. Là chuyên gia về về môi trường học, và hiện đang giữ chức Associate Professor của Sains Malaysia. TS Leo đã công bố gần 70 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế, thu hút khoảng 1000 trích dẫn. Ts Leo đã từng được trao nhiều giải thưởng ở Úc, Mĩ và Malaysia. Mới đây nhất, Ts Leo được công nhận chức danh cao quí “Kĩ sư chuyên nghiệp (Ir.)”


    Từ trái sang phải: Ts Lê Văn Út, Gs Nguyễn Thời Trung, tôi, Ts Stephanie Ma, Ts Leo Peng, Gs Edward Bean 

    Các bài phát biểu của 4 nhà khoa học là những trải nghiệm rất thực tế và những lời khuyên quí báu. Có lẽ ‘ấn tượng’ nhất là câu nói của hai nhà khoa học nữ (Leo và Stephanie). Ts Leo cho biết chị xuất thân từ một gia đình nghèo, chỉ bán cá bên đường, nhưng nhờ học đường mà chị có ngày hôm nay. Chị ấy nhấn mạnh rằng nếu không có học hành thì chắc nay chị vẫn là người bán cá ven đường. Chị ấy còn nói một câu làm cả hội trường vỗ tay: “Có lẽ tiếng Anh của tôi còn hạn chế, nhưng mỗi khi tôi nghe chữ impossible, tôi lại hiểu là I am possible.”


    Có cả gia đình của các 'laureates' đến tham dự buổi lễ, làm cho không khí thêm phần ấm cúng & gia đình. Chị Stephanie Ma thì có ba má và chồng đến dự, và đây cũng là chuyến đi VN đầu tiên của họ. Họ rất thích VN và món ăn Việt. Ts Leo thì đi một mình vì có con nhỏ. Gs Trung còn được con gái nhỏ lên tặng hoa! (Không biết con gái nói với với ba nó, nhưng thấy rất vui. Trong vai trò của người đọc citation, tôi cũng phải đi ra ngoài kịch bản một chút để nói chuyện ... vui. Nói chung, buổi lễ hôm qua rất khoa học nhưng đơn giản, trang trọng nhưng rất gia đình.


    Giải thưởng TDTU Prize là một nỗ lực quảng bá Việt Nam và Trường trên trường quốc tế khoa học. Rất nhiều ứng viên trong và ngoài nước có thành tựu rất tốt, nhưng chỉ có 3 giải thưởng nên số người cũng phải giới hạn và để lại cho lần xét duyệt sau. Các nhà khoa học được trao giải sẽ là cầu nối giữa VN, Trường và các đại học ở nước ngoài.


    Giải Lifetime Achievement được trao cho 2 người: Gs Edward McBean và Gs Nguyễn Thời Trung 

    Gs McBean phát biểu cảm tưởng

     
    Gs Trung phát biểu cảm tưởng


    Giải Rising Star: Ts Stephanie Ma, ĐH Hồng Kông 

    Ts Stephanie Ma phát biểu về việc làm của chị ấy 

    Giải Women in Science: Ts Leo Peng, Đại học Sains Malaysia

    Ts Peng phát biểu cảm tưởng. Chị ấy để lại câu nói rất hay:
    Có lẽ tiếng Anh của tôi còn hạn chế, nhưng mỗi khi tôi nghe chữ impossible, tôi lại hiểu là I am possible.” 


    Thông tin đăng tải về buổi “Lễ trao giải Giải thưởng khoa học Đại học Tôn Đức Thắng" trên các báo đài như sau: 


    · Bài trên Lao động : https://laodong.vn/xa-hoi/trao-giai-thuong-khoa-hoc-dai-hoc-ton-duc-thang-cho-4-nha-khoa-hoc-587265.ldo


    · Bài trên Sài Gòn Giải Phóng http://www.sggp.org.vn/trao-giai-thuong-tdtu-prize-nam-2017-494259.html 


    · Bài trêBáo mớihttps://baomoi.com/4-nha-khoa-hoc-the-gioi-nhan-giai-tdtu-prize-cua-truong-dh-ton-duc-thang/c/24682613.epi


    · Bài trên Báo điện tử tầm nhìn http://tamnhin.net.vn/4-nha-khoa-hoc-the-gioi-nhan-giai-tdtu-prize-cua-truong-dh-ton-duc-thang-9126.html


    · Bài trên Khoa học & Phát triển : http://khoahocphattrien.vn/thoi-su-trong-nuoc/4-nha-khoa-hoc-xuat-sac-quoc-te-nhan-giai-thuong-tdtu-prize/20180119051438714p882c918.htm


    · Bài trên Người Lao Động http://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/4-nha-khoa-hoc-the-gioi-nhan-giai-tdtu-prize-do-truong-dh-ton-duc-thang-khoi-xuong-20180119150530083.htm


    · Bài trên TinTM : http://www.tintm.com/chu-de/giao-duc/tphcm-4-nha-khoa-hoc-nhan-giai-thuong-khoa-hoc-dh-ton-duc-thang-1858984.html


    · Bài trên VOH : http://voh.com.vn/khoa-hoc-giao-duc/vinh-danh-4-nha-khoa-hoc-toan-cau-nhan-giai-thuong-khoa-hoc-dai-hoc-ton-duc-thang-259846.html  


    · Bài trên Giáo dục thời đại http://giaoducthoidai.vn/giao-duc/tphcm-4-nha-khoa-hoc-nhan-giai-thuong-khoa-hoc-dh-ton-duc-thang-3913020.html 


    · Bài trên Dân trí : http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/lan-dau-tien-mot-dai-hoc-viet-nam-trao-giai-vinh-danh-cac-nha-khoa-hoc-toan-cau-20180119162026197.htm 


    · Bài trên ViệtQ : http://vietq.vn/4-nha-khoa-hoc-nhan-giai-thuong-khoa-hoc-dai-hoc-ton-duc-thang-d137298.html 


    · Bài trên Thời báo.today : http://thoibao.today/paper/4-nha-khoa-hoc-doat-dh-ton-duc-thang-prize-nam-2017-2757499 


    · Bài trên Giaoduc.net.vn : http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Mot-nha-khoa-hoc-Viet-Nam-doat-Giai-thuong-khoa-hoc-cua-Truong-Ton-Duc-Thang-post183191.gd


    · Bài trên Tiền phong : https://www.tienphong.vn/giao-duc/vinh-danh-4-nha-khoa-hoc-dat-giai-thuong-quoc-te-dh-ton-duc-thang-1234362.tpo


    · Bài trên Phụ nữ : http://www.phunuonline.com.vn/giao-duc/mot-giai-thuong-khoa-hoc-viet-nam-hut-gioi-khoa-hoc-quoc-te-120984/


    · Bài trên HCMCity web: http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/tintuc/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=37&ItemId=59258&PublishedDate=2018-01-19T15:55:00Z  


    · Bài trên Pháp luật : http://plo.vn/xa-hoi/giao-duc/4-nha-khoa-hoc-dat-giai-khoa-hoc-dh-ton-duc-thang-751558.html 


    · Clip truyền thông trên Đài truyền hình Quốc Hội (quochoitv.vn) về “Lễ trao giải Giải thưởng khoa học Đại học Tôn Đức Thắng”; http://quochoitv.vn/kinh-te-xa-hoi/2018/1/dai-hoc-ton-duc-thang-trao-giai-thuong-khoa-hoc/168927


    · Clip truyền thông trên VTV về “Lễ trao giải Giải thưởng khoa học Đại học Tôn Đức Thắng”. https://www.youtube.com/watch?v=XdAGVorQ4OE&list=PLGTJirkXFpXoznufQ5ac4LnpKxOGzR50q&index=2




  • Older news items:

    Login

    Donate

    Donate using PayPal
    Amount: